Bằng những phép tính mộc mạc về giá trị lao động và sự tận tâm “đi từng ngõ, gõ từng nhà”, ông đã kiên trì kéo những người lầm lạc trở về với nương rẫy, xây dựng cuộc sống ấm no, âm thầm giữ bình yên cho vùng biên viễn.
Những bước chân vào bản
Những việc làm bền bỉ như cách ông Phạm Văn Khiêm đi từng bản, vào từng nhà, giữ học trò ở lại lớp, kéo người dân trở về với lao động và cuộc sống ổn định càng cho thấy ý nghĩa lâu dài của việc giữ một con người để giữ bình yên cả bản làng.
Giữa vùng cực Tây của Tổ quốc, có những người thầy nhiều năm không chỉ bám lớp, bám trường mà còn lặng lẽ đi sâu vào đời sống dân bản để gìn giữ nếp nghĩ và bồi đắp niềm tin đúng hướng từ gốc rễ. Công việc ấy không ồn ào, cũng không thể đo đếm bằng vài con số thành tích.
Nó hiện lên trong từng bước chân vào bản, từng lần gõ cửa mỗi nhà, từng buổi họp dân. Đó đều là những câu chuyện rất gần với cơm áo, nương rẫy, cây trồng, con cái và tương lai của mỗi gia đình.
Với ông Phạm Văn Khiêm, Hiệu trưởng Trường PTDTBT Tiểu học Trần Văn Thọ (xã Mường Nhé, tỉnh Điện Biên), đó là hành trình đã kéo dài suốt nhiều năm. Ông không chỉ dạy chữ cho học trò vùng cao mà còn bền bỉ giúp những con người từng chênh vênh trở lại với cuộc sống lành mạnh, để rồi tự đứng vững trên chính quê hương mình.
Năm 2007, khi được phân công làm Hiệu trưởng Trường Tiểu học Chung Chải, thuộc xã Chung Chải cũ, ông Khiêm chứng kiến tình trạng di cư đến địa bàn khá đông, trong khi việc tuyên truyền, lôi kéo người dân tham gia các hoạt động tôn giáo trái pháp luật diễn ra phổ biến trong đồng bào Mông. Ngay từ thời điểm ấy, ông chọn cho mình một cách làm giản dị nhưng không phải ai cũng kiên trì thực hiện: đi từng bản, từng nhà để nắm tình hình, lắng nghe tâm tư của người dân.
Trong các cuộc họp dân, ông chủ động quan sát xem ai là người có tiếng nói, ai có tầm ảnh hưởng trong bản để tiếp cận trước, từ đó tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước theo cách người dân có thể hiểu, có thể tiếp nhận và có thể tin.
Chính từ những cuộc đi bản bền bỉ ấy, ông biết đến Giàng A Vả và Vừ Phá Chí, những người từng có vai trò trong các nhóm sinh hoạt tôn giáo trái phép ở bản Pá Lùng (xã Chung Chải cũ). Điều đáng quý là ông không bước vào câu chuyện bằng định kiến hay phán xét. Ông chọn cách gần gũi, kết thân, chờ đúng lúc để giúp đỡ và từng bước tác động.
Với ông, muốn dân nghe thì trước hết phải làm cho dân tin; mà niềm tin ấy không đến từ những lời nói khô cứng. Nó chỉ có thể bắt đầu khi người dân cảm nhận được rằng mình đang có một người thực sự đứng về phía họ, lo cho họ từ những việc gần gũi nhất trong đời sống.
“Khi bố mẹ và con cái họ ốm, họ không cho đi viện, bệnh càng nặng thêm thì tôi hỗ trợ mua thuốc thông thường và vận động họ điều trị”, ông Khiêm nhớ lại.
Chính từ những việc tưởng như rất nhỏ như thế, một cánh cửa niềm tin dần mở ra. Ở vùng cao, nơi cái nghèo, sự thiếu thốn thông tin và những tập quán lạc hậu còn đan xen, đôi khi việc thuyết phục một con người thay đổi không bắt đầu từ những lý lẽ lớn lao mà từ sự có mặt đúng lúc trong lúc họ khó khăn nhất.
Ông Phạm Văn Khiêm (bìa phải) cùng đại diện Quỹ Chạm yêu thương trong chương trình thiện nguyện cải thiện dinh dưỡng học đường cho gần 1.000 học sinh Trường PTDTBT Tiểu học Trần Văn Thọ.
Một phép tính làm thay đổi nhận thức
Có một quãng thời gian, Giàng A Vả gần như rời xa nhịp sống lao động của một người đàn ông vùng cao. Những ngày lẽ ra phải lên nương, xuống ruộng, chăn nuôi, vun vén cho gia đình, anh lại bị cuốn vào các hoạt động tôn giáo trái phép. Từ đó, kinh tế gia đình sa sút dần.
Điều đáng lo hơn cả là khi con người không còn nhìn thấy giá trị của lao động, không còn tin rằng bám đất, bám nương là con đường giúp mình thay đổi cuộc sống thì những điều mơ hồ rất dễ trở thành chỗ bấu víu. Ở những nơi còn nhiều khó khăn như Mường Nhé, sự chênh vênh ấy chưa bao giờ chỉ là chuyện riêng của một cá nhân.
Điều làm nên sức thuyết phục trong cách làm của ông Khiêm là không nói nhiều. Ông chọn cách nói bằng thứ ngôn ngữ mà người dân vùng cao cảm nhận rõ nhất: tiền công, sức lao động, miếng ăn và tương lai của vợ con.
Ông phân tích cho Vả nghe vào thời điểm năm 2007: “Một ngày lao động làm thuê khoảng 150.000 đồng/người. Gia đình Vả có 6 người, nếu cùng lãng phí thời gian vào những sinh hoạt vô bổ thì chỉ trong một ngày đã thất thu 900.000 đồng; một tháng, nếu 6 người không lao động vào 4 ngày cuối tuần thì sẽ mất đi 3,6 triệu đồng; như vậy, một năm mất khoảng 40 triệu đồng”.
Đó là phép tính rất mộc mạc, nhưng đằng sau nó là cả một cách thức đánh thức nhận thức. Khi người ta nhận ra từng ngày mình đang đánh đổi điều gì, đang tự làm nghèo đi ra sao, họ mới dần giật mình nhìn lại.
Ông Khiêm không phủ nhận niềm tin của người khác bằng thái độ đối đầu gay gắt. Ông đi từ thực tế đời sống để người trong cuộc tự thấy điều gì đang làm mình nghèo hơn, yếu hơn, lùi lại phía sau.
Ông phân tích với Vả và Chí rằng, lãng phí thời gian cũng chính là lãng phí nguồn lực lao động của cả gia đình. Khi sức lao động bị bỏ phí, cái giá phải trả không chỉ là tiền bạc mà còn là bữa ăn của con trẻ, thuốc thang cho người già và tương lai học hành của cả một thế hệ.
Về sau, khi nhắc lại quãng thời gian ấy, ông Khiêm vẫn kể rất giản dị. Ông bảo mình giúp để người dân “biết không lãng phí thời gian cũng như sức lao động”, quan trọng nhất là “thay đổi tư tưởng và nhận thức đúng đắn để biết làm giàu và kiến thiết quê hương”.
Sự chuyển biến ấy không đến trong một sớm một chiều. Từ đó, anh Vả và anh Chí dần không còn tham gia quản lý nhóm đạo, ít dần những buổi sinh hoạt, rồi đến năm 2020 thì anh Vả không còn tham gia nữa. Từ chỗ bị cuốn vào những điều mơ hồ, anh dần trở về với nương rẫy và trách nhiệm của một người chồng, người cha trong gia đình.
Dựng lại cuộc sống bằng nương rẫy và niềm tin
Điều làm nên chiều sâu của câu chuyện là ông Khiêm không chỉ giúp người dân rời khỏi những nhận thức sai lệch mà còn chỉ cho họ hướng đi cụ thể để gây dựng cuộc sống.
Sau nhiều năm thay đổi nhận thức và ổn định đời sống, kinh tế gia đình anh Vả bắt đầu khởi sắc rõ rệt. Khi Vả và Chí tích cóp được một ít vốn, ông Khiêm tiếp tục khuyên họ tìm mua đất nương, đất ruộng để mở rộng sản xuất. Đến năm 2014, mỗi người đã mua được hơn chục héc-ta đất nương. Đây là dấu mốc cho thấy sự thay đổi không chỉ dừng ở nhận thức mà đã chuyển hóa thành những quyết định cụ thể trong đời sống kinh tế.
Giai đoạn 2019-2020, khi biết người dân huyện Mường Tè (tỉnh Lai Châu) trồng sả để làm tinh dầu cho hiệu quả tốt, ông khuyên Vả và Chí mua giống về trồng thử. Ngay năm đầu, riêng anh Vả đã thu được khoảng 200 triệu đồng.
Ở một bản vùng cao, con số ấy không chỉ có ý nghĩa về tiền bạc mà còn tạo sức lan tỏa lớn. Khi một mô hình cho hiệu quả thực sự, người dân sẽ nhìn thấy tận mắt rồi học theo.
Sau cây sả, ông tiếp tục tìm hiểu về cây gai và cây quế, rồi cùng Vả và Chí sang Yên Bái học kỹ thuật. Từ đầu năm 2021, hai người bắt đầu trồng quế. Riêng trong năm đó, anh Vả trồng được 5 ha quế, còn anh Chí trồng 4 ha.
Đến nay, diện tích quế ấy đã bắt đầu cho thu nhập từ cành và lá. Kinh tế của anh Vả khá lên rõ rệt. Gia đình anh hiện thuộc diện khá giả trong bản. Anh có 6 người con; con trai lớn là Giàng A Anh đang học lớp 10 Trường THPT Mường Nhé. Gia đình dự định sau khi học hết THPT sẽ cho em theo học sư phạm. Các con còn lại đang học tiểu học và THCS.
Không chỉ lo cho vợ con, anh còn phụng dưỡng bố mẹ già và chăm lo cho người em chưa lập gia đình. Những chi tiết ấy cho thấy sự thay đổi không còn là câu chuyện của riêng anh Vả mà đã trở thành nền tảng để cả gia đình đi theo một quỹ đạo khác.
Ông Phạm Văn Khiêm (bìa phải) hướng dẫn Giàng A Vả tập trung chăn nuôi theo hướng nuôi nhốt thay vì thả rông gia súc như trước đây.
Giữ bản làng từ gốc rễ lòng dân
Câu chuyện của ông Phạm Văn Khiêm không chỉ dừng ở việc giúp một người đổi thay. Điều lớn hơn nằm ở chỗ, từ một con người được giữ lại, cả một quỹ đạo sống được điều chỉnh. Từ một gia đình từng hao hụt tài sản, chao đảo nhận thức, nay đã biết tích đất, trồng cây, nuôi con ăn học, lo cho bố mẹ già, trở thành tấm gương để nhiều người trẻ trong bản học theo.
Ông Khiêm cho biết, nhiều người dân, nhất là lớp trẻ, đã học theo Giàng A Vả để phát triển kinh tế. Sự lan tỏa ấy rất đáng suy nghĩ, bởi khi một tấm gương làm ăn hiệu quả hình thành trong cộng đồng, chính nó sẽ trở thành cách thuyết phục bền bỉ nhất cho những điều tích cực.
Năm 2023, anh Giàng A Vả và anh Vừ Phá Chí được kết nạp vào Đảng. Đó không chỉ là dấu mốc về mặt tổ chức mà còn là kết quả của một quá trình thay đổi nhận thức và dựng lại cuộc sống bằng chính sức lao động của mình.
Từ câu chuyện ấy có thể thấy, những lệch hướng trong nhận thức thường nảy sinh từ khoảng trống về thông tin, tri thức, cơ hội phát triển và chỗ dựa tinh thần. Khi con người quá khó khăn, không nhìn thấy một lối đi rõ ràng phía trước, họ rất dễ bị cuốn vào những điều mơ hồ.
Ngược lại, khi có người kiên trì chỉ đường, có việc để làm, có đất để sản xuất, có cây để trồng, có con cái để nuôi ăn học, có tương lai để hướng đến thì những điều tích cực sẽ dần bén rễ.
Ở góc độ ấy, vai trò của những người thầy như ông Phạm Văn Khiêm không thể chỉ nhìn trong phạm vi giáo dục. Họ không chỉ gieo chữ mà còn gieo niềm tin; không chỉ giữ học trò ở lại lớp mà còn giúp dân bản bền lòng với lao động và cuộc sống đúng hướng.
Bằng những việc rất cụ thể như mang thuốc cho người ốm, tính giúp người dân số tiền công thất thu, cùng họ nghĩ chuyện mua đất, trồng cây, nuôi trâu, cho con đến trường, họ đã lặng lẽ làm công việc giữ nền tảng từ gốc rễ lòng dân.
Những gì từng xảy ra tại Huổi Khon năm 2011 càng cho thấy ý nghĩa của việc giữ dân từ cơ sở.
Cuối tháng 4, đầu tháng 5/2011, bản Huổi Khon, xã Nậm Kè, huyện Mường Nhé cũ, tỉnh Điện Biên trở thành điểm tụ tập đông người phức tạp về an ninh trật tự. Nhiều người bị kẻ xấu lôi kéo, kích động, mang theo niềm tin về một “miền đất hứa”, chờ “Vua Mông” xuất hiện để lập cái gọi là “Vương quốc Mông”. Số người tụ tập lên tới khoảng 7.000 người. Trong những ngày ấy, Huổi Khon rơi vào cảnh rối ren, đời sống bị đảo lộn, đường vào bản bị chốt giữ trái phép, nhiều người thiếu ăn, đau ốm và rơi vào cảnh khốn khó. Nhìn lại Huổi Khon càng thấy rõ giá trị của việc giữ người từ cơ sở. Khi những khoảng trống về nhận thức, sinh kế và niềm tin không được lấp đầy kịp thời, kẻ xấu rất dễ lợi dụng để kích động, chia rẽ cộng đồng.