xuân

Xóa rào cản, trao quyền học tập cho trẻ em gái dân tộc thiểu số

GD&TĐ - Từ lớp học đến sân khấu hóa, từ những buổi truyền thông ở bản làng đến định hướng nghề nghiệp trong thời đại số, ngành Giáo dục Cao Bằng đang từng bước xóa bỏ rào cản giới, trao cơ hội học tập công bằng cho trẻ em gái dân tộc thiểu số.

Đưa bình đẳng giới vào lớp học

“Con không lấy chồng đâu, con muốn đi học…” - lời phản đối yếu ớt của bé Mai trong tiểu phẩm “Chuyện nhà Sùng” khiến nhiều người lặng đi. Chỉ vì định kiến và hủ tục, em gái 13 tuổi suýt bị ép tảo hôn cận huyết thống.

Tiểu phẩm do học sinh Trường THCS Hợp Giang (phường Thục Phán) trình diễn tại lễ tổng kết giai đoạn 2 và khởi động giai đoạn 3 dự án “Chúng tôi có thể” không chỉ là câu chuyện sân khấu, mà phản ánh thực tế tồn tại ở một số vùng đồng bào dân tộc thiểu số: Trẻ em gái bị hạn chế cơ hội học tập, đối mặt nguy cơ tảo hôn và những hệ lụy lâu dài.

Em Hoàng Trung Nghĩa - học sinh Trường THCS Hợp Giang chia sẻ: “Tiểu phẩm được chúng em xây dựng từ những câu chuyện có thật và mong muốn mọi người hiểu rằng con gái cũng có quyền đi học, ước mơ tương lai của mình. Khi được học tập, các bạn nữ sẽ tự tin hơn và có thể giúp gia đình, bản làng phát triển”.

Trường THCS Hợp Giang - một trong những trường tham gia dự án “Chúng tôi có thể” - sáng kiến do Bộ GD&ĐT phối hợp với UNESCO triển khai nhằm thúc đẩy bình đẳng giới trong giáo dục, đặc biệt với học sinh nữ và học sinh dân tộc thiểu số. Tại đây, bình đẳng giới không còn là khái niệm lý thuyết, mà được “mềm hóa” qua nhiều hình thức gần gũi như sân khấu hóa, sinh hoạt câu lạc bộ, hoạt động trải nghiệm hay tư vấn học đường.

Giáo viên sau khi tham gia tập huấn đã xây dựng các nhóm học sinh nòng cốt, từ đó lan tỏa kiến thức tới bạn bè. Những buổi ngoại khóa trở thành không gian để học sinh bày tỏ quan điểm, chia sẻ câu chuyện, tháo gỡ rào cản tâm lý.

Bà Nguyễn Thủy Chung - Phó Hiệu trưởng Trường THCS Hợp Giang cho biết: “Dự án mang lại nhiều lợi ích thiết thực. Học sinh, đặc biệt các em gái đã tự tin hơn, dám nói lên suy nghĩ của mình. Các em hiểu rõ quyền của bản thân, biết bảo vệ mình trước những nguy cơ như tảo hôn hay bạo lực. Đồng thời, giáo viên thay đổi cách tiếp cận, quan tâm nhiều hơn đến yếu tố giới trong giảng dạy và giáo dục”.

Không chỉ ở khu vực trung tâm, tại những xã khó khăn, câu chuyện thay đổi nhận thức đang diễn ra từng ngày. Trường Tiểu học và THCS Vân Trình (xã Thạch An) là ví dụ khi phần lớn học sinh thuộc dân tộc thiểu số, đời sống khó khăn, tồn tại không ít hủ tục lạc hậu ảnh hưởng đến việc học.

Cô giáo Nông Thị Lan Hương - Trường Tiểu học và THCS Vân Trình chia sẻ: “Trước đây, nhiều phụ huynh suy nghĩ con gái học ít rồi lấy chồng sớm. Khi nhà trường phối hợp tuyên truyền, vận động, nhận thức dần thay đổi. Các em gái đi học chuyên cần hơn, mạnh dạn trong giao tiếp và học tập”.

Đáng chú ý, Trung tâm Y tế Thạch An đã phối hợp với nhà trường tổ chức các buổi truyền thông, tư vấn trực tiếp cho học sinh. Qua đó, các em được trang bị kiến thức về sức khỏe sinh sản, pháp luật hôn nhân gia đình, hiểu rõ tác hại của tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống.

Những nội dung tưởng chừng khô khan như quy định pháp luật hay hệ lụy dân số được chuyển tải bằng hình thức gần gũi, dễ hiểu. Các em nhận thức rõ tảo hôn không chỉ vi phạm pháp luật mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, tương lai cá nhân, chất lượng giống nòi và sự phát triển cộng đồng.

Không dừng lại ở nhà trường, các hoạt động còn lan tỏa tới gia đình và cộng đồng. Nội dung bình đẳng giới được lồng ghép trong các buổi họp phụ huynh, truyền thông tại thôn bản, góp phần thay đổi nhận thức từ gốc.

trao-quyen-hoc-tap-cho-tre-em-gai-1.jpgTrường Tiểu học và THCS Vân Trình phối hợp với Trung tâm Y tế Thạch An truyền thông về bình đẳng giới cho học sinh.

Lan tỏa từ mô hình đến thực tiễn

Giai đoạn 2023 - 2025, Cao Bằng là một trong ba địa phương được lựa chọn triển khai giai đoạn 2 dự án với 6 trường học tham gia. Ngành Giáo dục tỉnh đã tổ chức 5 đợt tập huấn cho 145 lượt cán bộ, giáo viên và cán bộ tư vấn học đường.

Sau tập huấn, nhiều mô hình thiết thực được triển khai như “Cây mơ ước” - nơi học sinh viết ra ước mơ của mình, hay các câu lạc bộ kỹ năng sống, tổ tư vấn tâm lý học đường. Những hoạt động này giúp học sinh, đặc biệt nữ sinh, có không gian chia sẻ, được lắng nghe và định hướng.

Theo bà Đàm Thị Trung Thu - Phó Giám đốc Sở GD&ĐT tỉnh Cao Bằng: “Thông qua các hoạt động, học sinh trở nên tự tin hơn, tích cực tham gia các hoạt động tập thể. Đặc biệt, các em gái và học sinh dân tộc thiểu số mạnh dạn chia sẻ ý kiến, hỗ trợ lẫn nhau. Môi trường học đường ngày càng an toàn, thân thiện, tôn trọng sự khác biệt”.

Không chỉ tác động đến học sinh, dự án còn góp phần nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên, hỗ trợ triển khai Chương trình GDPT mới, tăng cường kết nối giữa ngành Giáo dục với các tổ chức quốc tế.

Bước sang giai đoạn 3 (2026 - 2029), dự án “Chúng tôi có thể” được thiết kế với cách tiếp cận toàn diện hơn, không dừng lại ở nâng cao nhận thức mà còn hướng tới trang bị năng lực cho học sinh, đặc biệt nữ sinh, trong bối cảnh chuyển đổi số và nền kinh tế đổi mới sáng tạo.

Với chủ đề “Chúng tôi có thể vì một tương lai kết nối: Từ học tập đến tiên phong thông qua giáo dục STEAM”, dự án đặt mục tiêu hỗ trợ khoảng 6.000 học sinh, trong đó có 3.000 nữ sinh. Trọng tâm là mở rộng cơ hội tiếp cận các lĩnh vực khoa học, công nghệ, kỹ thuật, nghệ thuật và toán học - những lĩnh vực vốn đang tồn tại khoảng cách giới rõ rệt.

Các hoạt động như xây dựng chương trình học STEAM phù hợp bối cảnh địa phương, đào tạo giáo viên nòng cốt, phát triển cộng đồng thực hành, lồng ghép tư vấn hướng nghiệp, hay kết nối học sinh với doanh nghiệp và các hình mẫu nữ tiêu biểu… đều nhằm tạo ra hệ sinh thái giáo dục toàn diện.

Đáng chú ý, yếu tố “chuyển đổi giới” được lồng ghép xuyên suốt, không chỉ giúp học sinh có kỹ năng mà còn thay đổi cách nhìn nhận về vai trò của nữ giới trong các lĩnh vực khoa học - công nghệ.

Tại Cao Bằng - địa phương có nhiều xã vùng sâu, xa, đồng bào dân tộc thiểu số, việc tiếp tục triển khai dự án được kỳ vọng sẽ tạo chuyển biến bền vững hơn. Ngành Giáo dục tỉnh xác định sẽ tiếp tục nhân rộng các mô hình hiệu quả, tăng cường hoạt động trải nghiệm, tư vấn học đường và truyền thông cộng đồng. Khi giáo dục vào cuộc, bằng những cách làm gần gũi, nhân văn và phù hợp với từng vùng miền, những “nút thắt” định kiến đang dần được tháo gỡ.