Tại phiên họp, Quốc hội nghe Đại tướng Lương Tam Quang, Bộ trưởng Bộ Công an, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày Tờ trình về dự án Luật Định danh và xác thực điện tử.
Việc ban hành Luật nhằm thiết lập khuôn khổ pháp lý đầy đủ, thống nhất và có hiệu lực pháp lý cao về định danh và xác thực điện tử, làm cơ sở cho việc tạo lập, quản lý, sử dụng danh tính điện tử trong các hoạt động quản lý nhà nước, giao dịch điện tử và phát triển kinh tế số, xã hội số.
Bố cục của dự thảo Luật gồm 8 chương với 46 Điều.

Các đại biểu tham dự. Nguồn: Quochoi.vn.
Về phạm vi điều chỉnh: Dự thảo Luật quy định về định danh và xác thực điện tử; quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan.
Đối tượng áp dụng bao gồm: Cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam; người gốc Việt Nam chưa xác định được quốc tịch đang sinh sống tại Việt Nam; Tổ chức, cá nhân nước ngoài cư trú, hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; Cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài trực tiếp tham gia hoặc có liên quan đến hoạt động định danh và xác thực điện tử của Việt Nam.
Về đối tượng định danh điện tử: Dự thảo Luật xác định 5 nhóm đối tượng: cơ quan, tổ chức, cá nhân; sản phẩm, hàng hóa, tài sản vật chất và đối tượng vật chất khác; cơ sở dữ liệu, tệp dữ liệu, hình ảnh, âm thanh, video, ứng dụng, phần mềm và các dịch vụ số; sự kiện, giao dịch, hành vi; địa điểm và không gian; giao Chính phủ quy định việc định danh, xác thực điện tử đối với đối tượng thuộc lĩnh vực quân sự, quốc phòng, cơ yếu.
Quy định nguyên tắc thu thập dữ liệu tối thiểu, không thu thập lại dữ liệu đã có; nghiêm cấm sử dụng sinh trắc giả, hình ảnh giả tạo bằng công nghệ hoặc gian lận công nghệ khác để tạo lập, giả mạo danh tính điện tử; quy định chế độ ghi nhận, lưu vết, truy vết và trách nhiệm giải trình trong toàn bộ quá trình định danh, xác thực điện tử.
Về mô hình định danh điện tử: Dự thảo Luật quy định thực hiện theo 2 phương thức:
(1) Nhà nước đầu tư, thiết lập hệ thống, nền tảng để trực tiếp thực hiện hoạt động định danh điện tử; địa điểm, không gian; đối tượng thuộc dữ liệu cốt lõi, dữ liệu quan trọng; đối tượng đã được chứng nhận sở hữu, sử dụng; sản phẩm, hàng hóa rủi ro cao và đối tượng bí mật nhà nước.
(2) Tổ chức đủ điều kiện tự đầu tư, thiết lập hệ thống, nền tảng và cơ sở hạ tầng để thực hiện hoạt động định danh điện tử. Đối với các đối tượng còn lại, đẩy mạnh xã hội hóa dịch vụ định danh thương mại.
Về Hệ thống định danh và xác thực điện tử: Dự thảo Luật quy định gồm: Cơ sở dữ liệu quốc gia về định danh và xác thực điện tử; Nền tảng định danh và xác thực điện tử; Ứng dụng định danh quốc gia (VNeID); Hệ thống quản lý hiệu lực của danh tính điện tử và chứng thư điện tử xác nhận thông tin; Cổng định danh và xác thực điện tử quốc gia và các phần mềm, ứng dụng, hệ thống thông tin khác. Các hệ thống thông tin có liên quan được kết nối với Hệ thống để phục vụ quản lý nhà nước, cung cấp dịch vụ công và phát triển kinh tế - xã hội.
Về mô hình xác thực điện tử: Dự thảo Luật quy định mọi đối tượng đã được tạo lập danh tính điện tử và cấp mã định danh theo quy định của Luật là đối tượng xác thực điện tử; đồng thời thiết lập 03 mô hình thực hiện hoạt động xác thực điện tử, gồm: mô hình xác thực tập trung, mô hình xác thực trung gian và mô hình xác thực độc lập. Quy định bắt buộc liên kết, xác thực danh tính điện tử đối với giao dịch trên nền tảng số thuộc một số lĩnh vực.
Về dịch vụ định danh, xác thực điện tử: Dự thảo quy định điều kiện đối với tổ chức cung cấp dịch vụ định danh và xác thực điện tử về tư cách pháp nhân, năng lực tài chính, hệ thống kỹ thuật, hạ tầng công nghệ thông tin, nhân sự chuyên trách, quy trình nghiệp vụ, bảo vệ dữ liệu người dùng, an ninh mạng, kết nối kỹ thuật với Hệ thống và bảo hiểm trách nhiệm.
Ngoài ra, dự thảo Luật quy định nguyên tắc công nhận lẫn nhau đối với danh tính điện tử, kết quả xác thực của nước ngoài để sử dụng trong giao dịch xuyên biên giới; sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan của Luật Giao dịch điện tử, Luật Căn cước, Luật Chuyển đổi số, Luật Thương mại điện tử và Luật Đầu tư để bảo đảm thống nhất trong hệ thống pháp luật.
Trình bày Báo cáo thẩm tra về dự án Luật Định danh và xác thực điện tử, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại của Quốc hội, Thượng tướng Lê Tấn Tới cho biết Ủy ban cơ bản nhất trí với tên gọi, phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng. Tuy nhiên, có ý kiến đề nghị bổ sung một điều quy định về nguyên tắc áp dụng pháp luật để phân định rõ ranh giới với các luật chuyên ngành như Luật Căn cước, Luật Giao dịch điện tử, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân; làm rõ định danh và xác thực điện tử chỉ có giá trị kỹ thuật để nhận diện, xác thực đối tượng, không thay thế các quy định về quyền sở hữu, điều kiện giao dịch hay tình trạng pháp lý theo pháp luật chuyên ngành.
Về đối tượng định danh điện tử: Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại của Quốc hội cơ bản nhất trí với đối tượng định danh điện tử tại Điều 7 và thấy rằng quy định mở rộng đối tượng định danh điện tử sang thực thể vật chất và đối tượng phi vật chất là phù hợp xu thế. Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng, phạm vi đối tượng định danh điện tử tại Điều 7 quá rộng, nên đề nghị thu hẹp hoặc phân định rõ danh mục bắt buộc và danh mục khuyến khích thực hiện; cân nhắc tính khả thi khi định danh các đối tượng phi vật chất như tệp dữ liệu, ứng dụng, sự kiện, hành vi; đánh giá kỹ nguy cơ lộ lọt thông tin đối với đối tượng định danh chứa đựng bí mật nhà nước, bí mật kinh doanh.
Về danh tính điện tử, mã định danh: Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại của Quốc hội cơ bản nhất trí với quy định về danh tính điện tử, mã định danh từ Điều 11 đến Điều 19 dự thảo Luật. Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng việc giao cơ quan chuyên ngành hoặc tổ chức cung cấp dịch vụ tự quyết định các trường thông tin thu thập dễ dẫn đến lạm dụng, xâm phạm quyền riêng tư. Đề nghị bổ sung quy định khung về các trường thông tin được phép thu thập; giao Chính phủ quy định giới hạn các trường thông tin, ban hành khung tiêu chuẩn kỹ thuật và quán triệt nguyên tắc thu thập tối thiểu để bảo vệ quyền của chủ thể dữ liệu.
Về liên kết danh tính điện tử: Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại của Quốc hội cơ bản nhất trí với các quy định về liên kết danh tính điện tử tại Điều 20 dự thảo Luật. Tuy nhiên, có ý kiến đề nghị chỉ bắt buộc liên kết danh tính đối với các giao dịch mà pháp luật chuyên ngành có quy định bắt buộc; quy định việc liên kết danh tính điện tử bảo đảm nguyên tắc cần thiết, tương xứng với mục đích quản lý, sử dụng và mức độ rủi ro của giao dịch, tập trung vào các chủ thể có quyền quản lý, quyền kiểm soát hoặc trực tiếp xác lập, thực hiện giao dịch hành vi; đồng thời, quy định rõ phạm vi, điều kiện và mức độ liên kết danh tính; bổ sung nguyên tắc liên kết theo quan hệ gia đình, huyết thống hoặc người quản lý doanh nghiệp.
Về tổ chức cung cấp dịch vụ định danh và xác thực điện tử: Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại của Quốc hội nhất trí với chính sách xã hội hóa, cho phép các tổ chức đủ điều kiện tham gia cung cấp dịch vụ định danh và xác thực điện tử. Tuy nhiên, có ý kiến đề nghị cơ quan nhà nước phải ban hành khung tiêu chuẩn kỹ thuật tối thiểu và chuẩn dữ liệu dùng chung để tránh đầu tư dàn trải, thiếu tập trung, thiếu đồng bộ; đồng thời bổ sung quy định cụ thể về trách nhiệm pháp lý và cơ chế bồi thường thiệt hại của tổ chức cung cấp dịch vụ khi để xảy ra sự cố lộ lọt dữ liệu hoặc định danh, xác thực sai lệch.
Về chủ thể danh tính điện tử: Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại của Quốc hội cơ bản nhất trí với các quy định về chủ thể danh tính điện tử của dự thảo Luật. Tuy nhiên, có ý kiến đề nghị phân định rõ ràng hơn giữa “quyền sở hữu” và “quyền quản lý, sử dụng” để phù hợp với cơ chế đại diện, cơ chế ủy quyền theo Bộ luật Dân sự, làm căn cứ giải quyết tranh chấp và xử lý trách nhiệm pháp lý; đồng thời bổ sung quy định về ủy quyền và phân quyền quản lý, sử dụng danh tính điện tử.
Về tạm dừng, hủy bỏ, chấm dứt hiệu lực danh tính điện tử và lưu trữ dữ liệu: Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại của Quốc hội cơ bản nhất trí với các quy định về tạm dừng, hủy bỏ, chấm dứt hiệu lực danh tính điện tử và lưu trữ dữ liệu tại các điều 14, 17, 18 và 19 dự thảo Luật. Tuy nhiên, có ý kiến đề nghị quy định cụ thể thẩm quyền, căn cứ tạm dừng, hủy bỏ ngay trong Luật; quy định rõ thời hạn tối đa tạm dừng và trách nhiệm bồi thường thiệt hại nếu xử lý sai; bổ sung cơ chế tạm dừng khẩn cấp khi có nguy cơ mất an ninh, an toàn; quy định quyền của chủ thể được yêu cầu xóa, hủy dữ liệu danh tính tự chủ khi không còn nhu cầu. Về thời hạn lưu trữ, đề nghị rà soát lại để bảo đảm tương thích với Luật Lưu trữ và Bộ luật Dân sự, tránh gây áp lực không cần thiết lên hệ thống lưu trữ.
Về liên thông và hợp tác quốc tế: Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại của Quốc hội nhất trí với các quy định tại Chương VI. Tuy nhiên, có ý kiến đề nghị tiếp tục rà soát các quy định về công nhận danh tính, chữ ký số và kết quả xác thực điện tử nước ngoài để bảo đảm tương thích với các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới; bổ sung vào dự thảo Luật hoặc giao Chính phủ quy định cụ thể cơ chế phối hợp, yêu cầu đối với nền tảng số xuyên biên giới cung cấp dịch vụ tại Việt Nam trong việc liên kết, xác thực danh tính người dùng.
Về phí khai thác dữ liệu và cắt giảm thủ tục hành chính: Về phí khai thác, sử dụng dữ liệu, Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại của Quốc hội đề nghị rà soát bảo đảm thống nhất, không trùng lặp với Luật Dữ liệu, Luật Phí và lệ phí; tính toán mức phí hợp lý cho người dân, doanh nghiệp. Về cắt giảm thủ tục hành chính, có ý kiến đề nghị bổ sung quy định cho phép giải quyết thủ tục bằng giấy tờ truyền thống khi xảy ra sự cố kỹ thuật hoặc tại địa bàn chưa bảo đảm hạ tầng số.