xuân

Sơn mài Sài Gòn: Hành trình từ Gia Định đến Đại học Mỹ thuật TP. Hồ Chí Minh

Ngày 2.2, Trường Đại học Mỹ thuật TP.HCM tổ chức khai mạc Triển lãm Sơn mài Sài Gòn lần thứ 4 năm 2026, thu hút đông đảo họa sĩ, nhà điêu khắc, các chuyên gia, nhà nghiên cứu, giảng viên, sinh viên và công chúng yêu nghệ thuật.

dscf3284-zjxf-1770071242.jpg

Nghi thức cát băng khai mạc 

Nghệ thuật tranh sơn mài không chỉ là một loại hình mỹ thuật truyền thống của Việt Nam mà còn là biểu tượng sáng tạo đặc sắc liên quan mật thiết đến lịch sử đào tạo nghệ thuật ở miền Nam nước ta. Triển lãm Sơn mài Sài Gòn lần thứ 4 được tổ chức tại không gian Art Space, Trường Đại học Mỹ thuật TP. Hồ Chí Minh mở ra một chiều nhìn mới về dòng chảy sáng tạo sơn mài từ Trường Vẽ Gia Định xưa đến môi trường học thuật hiện đại hôm nay.

1. Một triển lãm đa chiều điểm nhấn của đời sống sơn mài

z7495095889440-049fc2049130073ec8956d6860eb8453-1770071225.jpg

PGS.TS Nguyễn Văn Minh – Hiệu trưởng Trường Đại học Mỹ thuật TP.HCM phát biểu khai mạc triển lãm

Triển lãm Sơn mài Sài Gòn lần thứ 4 được nhìn nhận từ hai góc tiếp cận bổ trợ cho nhau của những nhà quản lý gắn bó lâu dài với công tác đào tạo, sáng tác và nghiên cứu mỹ thuật. Đây không chỉ là nơi trưng bày tác phẩm, mà còn là diễn ngôn sống động phản ánh đời sống nghề nghiệp và thực hành sơn mài trong môi trường đào tạo và trong bối cảnh quản lý, bảo tồn nghệ thuật truyền thống.

Trong không khí se lạnh những ngày cuối năm ở thành phố, các họa sĩ – giảng viên của Trường Đại học Mỹ thuật TP. Hồ Chí Minh tất bật chuẩn bị cho triển lãm, với quy mô lớn nhất từ trước đến nay. Điều này thể hiện qua số lượng tên tuổi tham gia, từ những nghệ sĩ kỳ cựu đến các thế hệ trẻ, cùng với các tác phẩm gửi từ cả gia đình của các cố họa sĩ sơn mài nổi tiếng.

2. Dòng chảy sáng tạo từ Gia Định xưa đến TP. Hồ Chí Minh hôm nay

Điểm nhấn đáng chú ý của triển lãm là sự hội tụ của nhiều thế hệ họa sĩ, phần lớn xuất thân từ Trường Vẽ Gia Định, tiền thân của Trường Đại học Mỹ thuật TP. Hồ Chí Minh ngày nay.

Trường Vẽ Gia Định ra đời từ đầu thế kỷ XX, đặt nền móng cho giáo dục mỹ thuật ở miền Nam. Theo tư liệu lịch sử, đây là cơ sở đào tạo mỹ thuật với những bước đầu tiếp cận hệ thống kiến thức phương Tây, từ đó góp phần định hướng sáng tác mới cho nhiều thế hệ nghệ sĩ ở vùng đất này.

Qua nhiều thập niên, dòng sơn mài miền Nam đã phát triển phong phú, đối thoại giữa truyền thống và hiện đại, giữa đề tài dân gian và tư duy đương đại. Điều này tạo nên một di sản nghệ thuật xuyên suốt, từ ngòi bút các nghệ nhân xưa đến những sinh viên hiện đại hôm nay.

3. Nội dung và kỹ thuật bản sắc độc đáo của sơn mài Sài Gòn

z7495093193225-e8b102f736ed7683728db34c6c3b7502-1770071224.jpg

Tranh sơn mài  Thiếu nữ 90x60 của  cố họa sĩ Nguyễn Lâm

Một trong những yếu tố làm nên giá trị của triển lãm là nội dung phong phú và kỹ thuật sơn mài đặc thù. Trong hầu hết tác phẩm, hình ảnh “đất trời, sông nước, hoa trái và nhịp sống bình dị” của người phương Nam vẫn là nguồn cảm hứng chủ đạo.

Kỹ thuật sơn mài ở miền Nam đặc biệt là cách vẽ phủ mài cho phép họa sĩ trực tiếp kiểm soát sắc độ và hình thể ngay trong quá trình lên màu, sau đó phủ một lớp sơn cánh gián và đem ủ trước khi mài để hiển lộ vẻ đẹp sâu sắc của tác phẩm.

Dù mỗi họa sĩ thể hiện bằng ngôn ngữ tạo hình khác nhau hiện thực, biểu hiện, trừu tượng hay lập thể nghệ thuật sơn mài vẫn giữ hồn cốt và bản sắc truyền thống đặc thù. Điều này không chỉ tôn vinh di sản nghệ thuật dân tộc mà còn làm phong phú đời sống mỹ thuật đương đại.

4. Triển lãm nơi trao truyền kinh nghiệm và tiếp nối sáng tạo

z7495093193663-54e0e636025d8fff9da78bc9a2076e8d-1770071224.jpg

Tranh sơn mài Sơn ta "Trừu Tượng" của  Lâm Huỳnh Linh - 100x 120 cm

Triển lãm Sơn mài Sài Gòn 2026 là điểm tựa vững chắc trao truyền kinh nghiệm, kiến thức và cảm xúc nghề nghiệp cho nhiều lớp sinh viên chuyên ngành sơn mài. Đây là cơ hội để các bạn trẻ gặp gỡ, học hỏi từ những bậc thầy đi trước, tiếp nối đam mê và phát triển phong cách riêng.

Sự kiện này còn thể hiện trách nhiệm của Nhà trường trong việc bảo tồn và phát huy nghệ thuật sơn mài, khuyến khích giảng viên và sinh viên không ngừng sáng tạo để nghệ thuật này tiếp tục phát triển mạnh mẽ trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

5. Nghệ thuật sơn mài và vai trò của giáo dục mỹ thuật

Việc tổ chức triển lãm thường niên còn là minh chứng rõ nét cho vai trò của giáo dục mỹ thuật trong đời sống sáng tạo nghệ thuật nước nhà. Đại học Mỹ thuật TP. Hồ Chí Minh là một trong những trung tâm đào tạo mỹ thuật hàng đầu miền Nam, với lịch sử phát triển lâu dài từ Trường Vẽ Gia Định đến nay.

z7495093193717-ed64820fc49517a98836cfee0eb12e05-1770071224.jpg

Tranh sơn mài Sơn ta "Đường vào Làng" của Huyền Lam

Qua nhiều thế hệ, nhà trường không chỉ dạy kỹ thuật mà còn truyền cảm hứng, định hướng tư duy sáng tạo cho sinh viên, giúp họ kết nối truyền thống và hiện đại trong sáng tác nghệ thuật  đặc biệt là ở lĩnh vực sơn mài. Đây cũng là một minh chứng cho tinh thần học thuật bền bỉ và tầm nhìn dài hạn trong bối cảnh giáo dục nghệ thuật đương đại.

Triển lãm quy tụ rất nhiều hoạ sĩ – giảng viên, hoạ sĩ chuyên nghiệp thuộc nhiều thế hệ, đa phần xuất thân từ Trường Vẽ Gia Định đến Đại học Mỹ thuật TP. Hồ Chí Minh. Danh sách bao gồm:

Cổ Tấn Long Châu, Nguyễn Khắc Vinh, Đào Minh Tri, Nguyễn Bích Trâm, Huỳnh Văn Mười, Dương Sen, Nguyễn Hoài Hương, Nguyễn Thành Quốc Thạnh, Lê Ngọc Linh, Võ Nam, Hứa Thanh Bình…

cùng các hoạ sĩ thế hệ sau như Huyền Lam, Nguyễn Văn Minh, Nguyễn Tiến Lên, Mai Anh Dũng, Nguyễn Dũng An Hòa, Ngô Việt Hùng, Lâm Chí Trung, Mạc Hoàng Thượng, Nguyễn Tấn Công, Nguyễn Quang Sơn, Trương Thanh Lương, Nguyễn Minh Quang, Đoàn Thế Vỹ, Phạm Quốc Ân, Nguyễn Văn Quý…

Đặc biệt, gia đình các cố hoạ sĩ Hoàng Trầm, Nguyễn Văn Rô, La Hon, Hồ Hữu Thủ, Nguyễn Lâm cũng gửi tác phẩm tham gia triển lãm.

Các hoạ sĩ tiêu biểu

Nguyễn Văn Rô

Là một trong những họa sĩ gắn bó sâu sắc với kỹ thuật sơn mài truyền thống, Nguyễn Văn Rô thể hiện được sự giao thoa giữa kỹ thuật cổ điển và tư duy sáng tác hiện đại. Tác phẩm của ông thường có gam màu trầm ấm, đường nét tinh tế, tạo được cảm giác sâu lắng, suy tư. Sự góp mặt của các tác phẩm Rô trong triển lãm là lời nhắc về một con đường sáng tạo luôn tôn trọng bản sắc truyền thống.

 Hồ Hữu Thủ

Hồ Hữu Thủ là tên tuổi được giới nghệ thuật đánh giá cao với những bức sơn mài giàu tính biểu cảm và tâm lý. Ông thường khai thác đề tài nhân văn, xã hội, ghi lại những khoảnh khắc đời thường với chiều sâu cảm xúc. Các tác phẩm của Thủ không ngừng đặt ra những câu hỏi về mối quan hệ giữa con người và môi trường sống điều khiến sơn mài không chỉ là kỹ thuật mà là ngôn ngữ kể chuyện.

 Nguyễn Lâm

Nguyễn Lâm là nghệ sĩ sơn mài với phong thái sáng tác phóng khoáng và giàu hình tượng. Ông không ngại thử nghiệm các giải pháp màu mới, bố cục mở rộng, tạo ra những tác phẩm vừa giữ được bản chất sơn mài Việt Nam, vừa mang hơi thở đương đại. Lâm là một trong những tên tuổi đại diện cho lớp nghệ sĩ trẻ đẩy ranh giới kỹ thuật sơn mài.

 Huyền Lam

Huyền Lam là họa sĩ nữ được nhiều người yêu mến với những tác phẩm sơn mài mang tính thi vị, nhẹ nhàng nhưng sâu sắc. Các chủ đề Lam chọn thường liên quan đến đời sống tinh thần, ký ức và vẻ đẹp thiên nhiên, được thể hiện bằng cách xử lý bề mặt rất tinh xảo. Chính sự nhạy cảm thị giác cùng cách kể chuyện bằng chất liệu đã làm nên dấu ấn riêng cho Lam trong triển lãm.

Cổ Tấn Long Châu

Là một trong những hoạ sĩ chủ lực của triển lãm, Long Châu thể hiện sơn mài bằng phong cách sáng tạo riêng, cân bằng giữa truyền thống và hiện đại, đem đến cảm nhận sâu sắc về nội tâm qua chất liệu sơn mài.

Đào Minh Tri

Một nghệ sĩ quen thuộc với người yêu nghệ thuật Sài Gòn, Đào Minh Tri đã góp mặt nhiều lần trong các cuộc trưng bày sơn mài quy mô lớn, nổi bật với những tác phẩm giàu cấu tứ và xử lý màu sắc tinh tế.

Nguyễn Bích Trâm

Bích Trâm là hoạ sĩ có tiếng trong giới sơn mài đương đại, với những bố cục chặt chẽ và cách thể hiện vật thể vừa sắc sảo, vừa mềm mại, tạo điều kiện người xem dễ tiếp cận nhưng vẫn cảm nhận chiều sâu cảm xúc.

Võ Nam

Võ Nam là một tên tuổi nổi bật với những tác phẩm sơn mài giàu nhịp điệu thị giác và cảm nhận phương Nam, đưa người xem bước vào không gian vừa gần gũi đời thường, vừa đầy tính thẩm mĩ.

Hứa Thanh Bình

Thanh Bình là hoạ sĩ thế hệ mới, thường khai thác đề tài ký ức, hoài niệm qua sơn mài, với bảng màu trầm ấm và cảm xúc nội tâm rõ nét, điều làm nên “dấu ấn cá nhân” trong mỗi tác phẩm.

Truyền thống giỗ Tổ ngành sơn mài Việt Nam – tinh thần tri ân và đạo nghề

Trong dòng chảy của mỹ thuật Việt Nam, sơn mài là một loại hình đặc biệt, vừa mang dấu ấn thủ công truyền thống, vừa khẳng định được vị thế như một ngôn ngữ nghệ thuật hiện đại. Gắn với quá trình hình thành và phát triển ấy là truyền thống tưởng niệm Tổ nghề, một nét sinh hoạt văn hóa mang tính tinh thần, thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của người làm nghề.

Khác với một số ngành thủ công truyền thống có ngày giỗ Tổ thống nhất, ngành sơn mài Việt Nam không có một ngày giỗ Tổ chung cho toàn quốc, cũng không tôn vinh một cá nhân duy nhất làm Tổ sư. Điều này xuất phát từ chính lịch sử phát triển đa nguồn của nghề sơn: từ sơn ta dân gian phục vụ kiến trúc, đồ thờ, mỹ nghệ, đến sơn mài nghệ thuật hiện đại hình thành trong môi trường học thuật thế kỷ XX.

Ở các làng nghề truyền thống, nghề sơn thường gắn bó chặt chẽ với nghề mộc, nghề chạm khắc và kiến trúc đình chùa. Lễ giỗ Tổ tại đây thường diễn ra trong khuôn khổ sinh hoạt làng xã, thờ chung Tổ nghề, không tách biệt sơn mài như một ngành độc lập. Ngày giỗ Tổ vì thế mang tính tập quán địa phương, tùy theo lệ làng, thường được tổ chức giản dị, trang nghiêm, nhấn mạnh sự gắn kết cộng đồng và sự truyền nối nghề nghiệp qua các thế hệ.

Bước sang thế kỷ XX, cùng với sự ra đời của sơn mài nghệ thuật hiện đại, truyền thống tưởng niệm Tổ nghề cũng mang thêm một tầng ý nghĩa mới. Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (thành lập năm 1925) được xem là cái nôi quan trọng, nơi sơn ta truyền thống được nghiên cứu, thử nghiệm và chuyển hóa thành ngôn ngữ tạo hình hiện đại. Các thế hệ nghệ sĩ như Nguyễn Gia Trí, Trần Văn Cẩn, Phạm Hậu, Nguyễn Khang… đã góp phần định hình diện mạo sơn mài Việt Nam trên bản đồ mỹ thuật thế giới. Tuy nhiên, trong giới mỹ thuật, việc tưởng niệm các bậc tiền bối này không mang tính phong thánh hay tín ngưỡng, mà là sự tri ân nghề nghiệp, ghi nhớ công lao khai mở và gìn giữ chất liệu.

Tại các xưởng sơn mài, gia đình nghệ nhân, trường mỹ thuật, lễ giỗ Tổ thường được tổ chức nhỏ gọn: thắp hương, nhắc lại lịch sử nghề, tưởng nhớ thầy dạy, người truyền nghề, và gặp gỡ các thế hệ học trò. Không khí của lễ giỗ Tổ ngành sơn mài vì thế thường lặng lẽ, ấm áp, đề cao đạo nghề, nhân cách người làm nghề hơn là hình thức lễ nghi.

Ở Sài Gòn – TP.HCM, nơi sơn mài phát triển mạnh mẽ từ giữa thế kỷ XX, truyền thống này càng thể hiện rõ tính linh hoạt. Lễ giỗ Tổ thường mang tính gia đình – xưởng nghề – nhóm nghệ sĩ, gắn với ký ức nghề nghiệp và sự tiếp nối sáng tạo, hơn là một nghi lễ chính thức do tổ chức nghề nghiệp hay nhà nước chủ trì.

Có thể nói, giỗ Tổ ngành sơn mài Việt Nam không nằm ở một ngày cố định, mà hiện diện trong chính thái độ sống và làm nghề của người nghệ sĩ: sự trân trọng vật liệu truyền thống, lòng biết ơn với người đi trước, và ý thức giữ gìn phẩm giá nghề nghiệp. Đó chính là nền tảng tinh thần giúp sơn mài Việt Nam không ngừng đổi mới mà vẫn giữ được chiều sâu văn hóa của mình.

Bên cạnh các làng nghề sơn mài ở miền Bắc, Bình Dương được xem là một trong những trung tâm sơn mài tiêu biểu của Nam Bộ. Từ cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX, các làng nghề như Tương Bình Hiệp đã hình thành và phát triển mạnh, gắn với nhu cầu đồ thờ, đồ gia dụng, tranh trang trí và mỹ nghệ xuất khẩu. Sơn mài Bình Dương mang đặc trưng của tinh thần Nam Bộ: thực tế, bền bỉ, chú trọng tay nghề và tính ứng dụng, đồng thời sớm tiếp cận thị trường rộng mở. Trong sinh hoạt nghề nghiệp, việc tưởng niệm Tổ nghề tại đây thường gắn với lễ đình, lễ làng hoặc giỗ tổ nghề mộc – sơn, thể hiện sự hòa quyện giữa tín ngưỡng dân gian và đạo nghề thủ công.

Từ nền tảng ấy, sơn mài Sài Gòn phát triển như một không gian giao thoa đặc biệt. Sài Gòn không phải là làng nghề theo nghĩa truyền thống, nhưng lại là nơi hội tụ nghệ nhân, thợ giỏi và nghệ sĩ từ nhiều vùng miền. Từ thập niên 1950 đến 1970, sơn mài Sài Gòn vừa kế thừa kỹ thuật làng nghề Bình Dương, vừa hấp thụ tư duy tạo hình hiện đại, hình thành nên diện mạo đa dạng: từ sơn mài mỹ nghệ, sơn mài trang trí nội thất đến sơn mài hội họa. Trong bối cảnh đó, truyền thống giỗ Tổ không mang hình thức cố định, mà tồn tại như một ý thức nghề nghiệp âm thầm, được gìn giữ trong các xưởng, gia đình nghệ nhân và mối quan hệ thầy trò, góp phần nuôi dưỡng bản sắc riêng của sơn mài Nam Bộ.

Ở Bình Dương – Sài Gòn, trong thực hành nghề đương đại, nhiều xưởng, gia đình nghệ nhân và nhóm họa sĩ không chỉ làm một ngày giỗ Tổ, mà tổ chức thành tuần lễ giỗ Tổ sơn mài.

Cùng với sự phát triển của làng nghề và môi trường đô thị, Sài Gòn và Bình Dương cũng là nơi hình thành một đội ngũ họa sĩ và các phòng tranh sơn mài tiêu biểu, góp phần định hình diện mạo sơn mài Nam Bộ trong nửa sau thế kỷ XX. Tại Sài Gòn, nhiều họa sĩ gắn bó lâu dài với chất liệu sơn mài đã để lại dấu ấn rõ nét như Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Văn Rô, Hồ Hữu Thủ, Nguyễn Lâm, Huyền Lam, cùng một số nghệ sĩ thuộc các thế hệ sau tiếp tục khai thác sơn mài theo hướng cá nhân hóa, mở rộng đề tài và ngôn ngữ tạo hình. Các tác phẩm của họ không chỉ hiện diện trong triển lãm mỹ thuật mà còn gắn với không gian sống, kiến trúc và sưu tập tư nhân.

Song song với đó, Bình Dương vẫn giữ vai trò là “hậu phương tay nghề” quan trọng, nơi nhiều nghệ nhân và họa sĩ xuất thân từ làng nghề Tương Bình Hiệp vừa sản xuất sơn mài mỹ nghệ, vừa tham gia sáng tác tranh sơn mài nghệ thuật. Tại đây hình thành các xưởng và phòng tranh gia đình, nơi kỹ thuật truyền thống được gìn giữ và truyền dạy trực tiếp qua nhiều thế hệ. Một số cơ sở sơn mài ở Bình Dương từng là đối tác sản xuất hoặc cộng tác với các họa sĩ, phòng tranh tại Sài Gòn, tạo nên mối liên kết chặt chẽ giữa làng nghề và đô thị.

Các phòng tranh sơn mài ở Sài Gòn – dù không chuyên biệt hoàn toàn cho một chất liệu – đã đóng vai trò giới thiệu, kết nối và đưa sơn mài đến với công chúng trong và ngoài nước. Chính sự tương tác giữa họa sĩ, nghệ nhân, xưởng nghề và không gian trưng bày này đã góp phần tạo nên bản sắc riêng của sơn mài Sài Gòn – Bình Dương: vừa bền gốc truyền thống, vừa linh hoạt trước những đổi thay của đời sống mỹ thuật đương đại.

PV