xuân

Quy định đặc thù về cơ chế quản lý tài chính đối với doanh nghiệp kinh doanh xổ số

Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng ký Nghị định số 394/2026/NĐ-CP ngày 23/10/2026 quy định một số nội dung đặc thù về cơ chế quản lý tài chính đối với doanh nghiệp kinh doanh xổ số.

Nghị định này gồm 4 chương, 12 điều quy định một số nội dung đặc thù về cơ chế quản lý tài chính đối với doanh nghiệp kinh doanh xổ số tại Việt Nam.

Đối tượng áp dụng:

1. Doanh nghiệp kinh doanh xổ số, bao gồm: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên xổ số kiến thiết các tỉnh, thành phố; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Xổ số điện toán Việt Nam (sau đây gọi tắt là Vietlott).

2. Cơ quan đại diện chủ sở hữu của doanh nghiệp kinh doanh xổ số.

3. Tổ chức và cá nhân khác có liên quan đến việc quản lý tài chính của doanh nghiệp kinh doanh xổ số.

Doanh thu của doanh nghiệp kinh doanh xổ số bao gồm: Doanh thu từ hoạt động kinh doanh xổ số, doanh thu từ hoạt động kinh doanh khác, doanh thu từ hoạt động tài chính và thu nhập khác theo quy định của pháp luật.

Đối với giải thưởng tích lũy của các sản phẩm xổ số điện toán, nếu hết thời hạn lĩnh thưởng mà người trúng thưởng không đến lĩnh thưởng thì doanh nghiệp kinh doanh xổ số hạch toán vào thu nhập khác của doanh nghiệp.

Chi phí đặc thù đối với doanh nghiệp kinh doanh xổ số

Nghị định quy định chi phí đặc thù đối với doanh nghiệp kinh doanh xổ số gồm: chi phí trả thưởng; chi hoa hồng đại lý cho các đại lý xổ số; chi phí ủy quyền trả thưởng; chi phí quay số mở thưởng và chi cho công tác giám sát xổ số; chi phí hỗ trợ công tác phòng chống số đề và làm giả vé xổ số; chi phí trích lập quỹ dự phòng rủi ro trả thưởng; chi phí về vé xổ số; chi phí thông tin vé xổ số, quay số mở thưởng và kết quả mở thưởng; chi phí đóng góp hoạt động của Hội đồng xổ số kiến thiết khu vực.

Về chi phí trả thưởng, Nghị định quy định:

a) Chi phí trả thưởng đối với loại hình xổ số truyền thống, xổ số lô tô thủ công và xổ số biết kết quả ngay là số tiền trả cho người trúng thưởng theo quy định của pháp luật.

Riêng đối với loại hình xổ số truyền thống phát hành theo cơ chế liên kết phát hành, chi phí trả thưởng gồm: Chi phí trả thưởng thanh toán cho các vé xổ số trúng thưởng thuộc trách nhiệm tự chi trả của doanh nghiệp kinh doanh xổ số theo quy định tại Quy chế hoạt động của Hội đồng xổ số kiến thiết khu vực; chi phí trả thưởng được phân bổ cho doanh nghiệp kinh doanh xổ số theo tỷ lệ phân bổ đối với các vé xổ số trúng thưởng thuộc trách nhiệm chi trả chung của Hội đồng được quy định cụ thể tại Quy chế hoạt động của Hội đồng xổ số kiến thiết khu vực.

b) Chi phí trả thưởng đối với loại hình xổ số điện toán là số tiền trả thưởng phát sinh cho người trúng thưởng và giá trị của các giải thưởng tích lũy được chuyển sang kỳ quay số mở thưởng tiếp theo theo quy định của pháp luật về xổ số.

Đối với chi hoa hồng đại lý cho các đại lý xổ số, Nghị định quy định:

a) Hoa hồng đại lý là khoản tiền mà doanh nghiệp kinh doanh xổ số trả cho đại lý xổ số theo tỷ lệ phần trăm trên giá trị vé xổ số đã bán. Bộ Tài chính quy định tỷ lệ chi hoa hồng đại lý tối đa trong từng thời kỳ.

b) Doanh nghiệp kinh doanh xổ số có trách nhiệm:

Quy định cụ thể tỷ lệ hoa hồng đại lý tại hợp đồng đại lý xổ số được ký với đại lý xổ số;

Thanh toán tiền hoa hồng đại lý sau khi đã hoàn tất việc xác nhận số lượng vé xổ số đại lý đã tiêu thụ trong kỳ và đại lý xổ số đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ kinh tế ghi tại hợp đồng đại lý;

Thực hiện khấu trừ tiền thuế phải nộp của các đại lý xổ số là cá nhân trước khi thanh toán tiền cho đại lý xổ số theo quy định của pháp luật thuế.

Phân phối lợi nhuận

Nghị định quy định đối với doanh nghiệp kinh doanh xổ số đã được đầu tư đủ vốn điều lệ theo quyết định của cơ quan đại diện chủ sở hữu thì không được trích quỹ đầu tư phát triển.

Doanh nghiệp kinh doanh xổ số không được sử dụng lợi nhuận còn lại sau thuế và quỹ khen thưởng, phúc lợi của doanh nghiệp để chi thưởng hoặc hỗ trợ thêm hoa hồng đại lý vượt quá mức tối đa theo quy định pháp luật.

Doanh nghiệp kinh doanh xổ số chỉ được đầu tư ra bên ngoài đối với các ngành nghề liên quan trực tiếp đến hoạt động kinh doanh xổ số.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 08/12/2026. Bãi bỏ Nghị định số 122/2017/NĐ-CP ngày 13/11/2017 quy định một số nội dung đặc thù về cơ chế quản lý tài chính và đánh giá hiệu quả hoạt động đối với doanh nghiệp kinh doanh xổ số; Sở Giao dịch chứng khoản và Trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam.

Đối với các doanh nghiệp kinh doanh xổ số có số dư quỹ dự phòng rủi ro trả thưởng cao hơn số dư tối đa được trích theo quy định tại Nghị định này, số chênh lệch được hạch toán vào thu nhập khác của doanh nghiệp kinh doanh xổ số tại thời điểm kết thúc năm tài chính 2026 và thực hiện nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật./.