xuân

Phát huy vai trò nòng cốt của cơ sở GD đại học trong phát triển khoa học - công nghệ

bbe19757-cac4-4d7f-ab71-a8ffe9cb7730.jpg Quyền Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn chủ trì, phát biểu tại Hội nghị.

Hội nghị được tổ chức trực tiếp kết hợp trực tuyến. Cùng dự Hội nghị có Thứ trưởng Nguyễn Văn Phúc; lãnh đạo các vụ, cục, Văn phòng Bộ; lãnh đạo và chuyên viên các đơn vị phụ trách khoa học, công nghệ, đào tạo và chuyển đổi số của các cơ sở giáo dục đại học.

Vai trò nòng cốt của cơ sở giáo dục đại học và những vấn đề đặt ra

Khai mạc hội nghị, Quyền Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn cho biết, việc thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW (Nghị quyết 57) tập trung vào nhiều nhiệm vụ; trong đó, phát triển nguồn nhân lực cùng với phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là hai nội dung nòng cốt. Các cơ sở giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng, bởi đây là nơi có thể đồng thời thực hiện hiệu quả hai nhiệm vụ này.

Năng lực khoa học - công nghệ không chỉ phụ thuộc vào hạ tầng nghiên cứu, hạ tầng tính toán phục vụ nghiên cứu hay nguồn lực dành cho hoạt động nghiên cứu và phát triển, mà quan trọng hơn cả là đội ngũ nhân lực. Vì vậy, việc thực hiện thành công Nghị quyết 57 phụ thuộc rất lớn vào vai trò của các cơ sở giáo dục đại học.

Chia sẻ điều này, Quyền Bộ trưởng đặc biệt nhấn mạnh vai trò then chốt, nòng cốt của các cơ sở giáo dục đại học trực thuộc Bộ GD&ĐT, bao gồm cả hai đại học quốc gia. Đây là những đơn vị đào tạo số lượng lớn số sinh viên, học viên sau đại học của cả nước, trong đó tỷ lệ nghiên cứu sinh chiếm mức rất cao. Riêng trong các lĩnh vực khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và STEM, tỷ lệ này còn cao hơn nữa.

nq579.jpg Quang cảnh Hội nghị.

Trong số rất nhiều nhiệm vụ, trong khuôn khổ Hội nghị, Quyền Bộ trưởng lưu ý tập trung một số nội dung trọng tâm sau:

Thứ nhất, đánh giá tình hình sau hơn một năm triển khai Nghị quyết 57. Trong thực tiễn, những nội dung nào đã chuyển động, những điểm nào đã tạo ra sự khác biệt? Từ thể chế, chính sách, hạ tầng nghiên cứu, nhân lực, cho đến chuyển đổi số - những yếu tố nào đã có chuyển biến thực sự tại các cơ sở giáo dục đại học?

Thứ hai, đánh giá việc thực hiện các mục tiêu lớn trong phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trước hết là các mục tiêu về phát triển nhân lực khoa học công nghệ - lĩnh vực mà cơ sở giáo dục đại học giữ vai trò then chốt. Việc triển khai các chương trình đào tạo chất lượng cao, đào tạo tài năng, mở rộng đào tạo trong các lĩnh vực STEM, đặc biệt là đào tạo sau đại học đã có những biến chuyển như thế nào; thuận lợi và khó khăn ra sao? Các cơ chế chính sách hiện nay đã triển khai đến đâu, ban hành đầy đủ hay chưa, thuận lợi và khó khăn cụ thể là gì?

Về nội dung này, Quyền Bộ trưởng cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thu hút nhân tài, đặc biệt là các nhà khoa học xuất sắc, giảng viên giỏi từ nước ngoài hoặc từ doanh nghiệp. Nghị quyết số 71-NQ/TW đặt mục tiêu thu hút 2.000 nhà khoa học xuất sắc. Vậy sự đóng góp của các trường đại học trong thực hiện mục tiêu này như thế nào? Chúng ta còn thiếu những cơ chế gì để triển khai hiệu quả?

Ngoài ra là vấn đề hạ tầng nghiên cứu. Để thực hiện tốt nhiệm vụ khoa học công nghệ, ngoài đào tạo và thu hút nhân lực, cần chuẩn bị, triển khai hệ thống phòng thí nghiệm, hệ thống tính toán, cơ sở dữ liệu khoa học… Vấn đề Quyền Bộ trưởng đưa ra là, các trường đã triển khai thực tế ra sao và còn gặp những khó khăn gì? Hiện nay, nhiều chương trình đã được Bộ Khoa học và Công nghệ trình Thủ tướng phê duyệt, cũng như các đề án do Bộ GD&ĐT trình Thủ tướng, lồng ghép trong các chương trình đào tạo chất lượng cao, đề án các trung tâm xuất sắc, các chương trình về đường sắt, bán dẫn… Chúng ta đã tận dụng các chương trình này như thế nào để xây dựng hạ tầng nghiên cứu?

nq57.jpg Quyền Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn phát biểu tại Hội nghị.

Thứ ba là việc tham gia xây dựng và thực hiện các nhiệm vụ khoa học công nghệ lớn. Hai hướng chính là nghiên cứu phát triển các công nghệ chiến lược, công nghệ lõi theo các chương trình và nhiệm vụ đã được phê duyệt; tham gia giải quyết các bài toán lớn của địa phương và quốc gia. Quyền Bộ trưởng mong làm rõ, trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ này, việc hợp tác với doanh nghiệp theo mô hình “ba nhà” (Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp) được triển khai như thế nào? Những mô hình, kinh nghiệm thành công nào có thể chia sẻ? Giải pháp đột phá nào cần được đề xuất? Đồng thời, các điểm nghẽn về cơ chế chính sách là gì và cần kiến nghị gì với Chính phủ, các bộ ngành và địa phương?

Thứ tư là nguồn lực tài chính. Để đầu tư hạ tầng, thu hút nhân tài và triển khai các nhiệm vụ lớn, cần có nguồn lực tài chính phù hợp. Quyền Bộ trưởng đặt vấn đề: Nguồn lực từ Nhà nước hiện được chuẩn bị ra sao? Cơ chế giải ngân, cơ chế đề xuất nhiệm vụ có vướng mắc gì không? Nguồn lực từ doanh nghiệp đã được khơi thông chưa? Khi triển khai mô hình hợp tác “ba nhà”, các trường gặp những khó khăn gì?

Cuối cùng là vấn đề chuyển đổi số. Đây không chỉ là nhiệm vụ nội bộ mà còn phục vụ cho quản trị và quản lý của mỗi cơ sở giáo dục đại học cũng như toàn hệ thống. Tại Hội nghị, Quyền Bộ trưởng đề nghị các ý kiến đánh giá về mức độ chuyển đổi số tại đơn vị; đặc biệt là việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong dạy học, trong quản trị nhà trường và trong toàn hệ thống giáo dục.

“Chúng tôi mong các thầy cô tập trung đánh giá và kiến nghị xoay quanh năm nhóm vấn đề trên. Bên cạnh đó, các sáng kiến riêng của từng trường trong quá trình triển khai cũng rất đáng quan tâm. Thông qua buổi làm việc hôm nay, Bộ GD&ĐT mong muốn nắm được thực trạng triển khai để có những giải pháp thúc đẩy nhanh và hiệu quả hơn. Những nội dung thuộc thẩm quyền của Bộ sẽ được chủ động giải quyết; những vấn đề vượt thẩm quyền sẽ được tổng hợp để kiến nghị với Chính phủ, các bộ ngành và địa phương”, Quyền Bộ trưởng cho hay.

nq578.jpg Ông Phạm Quang Hưng, Cục trưởng Cục Khoa học, Công nghệ và Thông tin báo cáo tại Hội nghị.

Đạt kết quả bước đầu trên nhiều lĩnh vực

Báo cáo tại hội nghị, ông Phạm Quang Hưng, Cục trưởng Cục Khoa học, Công nghệ và Thông tin cho biết, triển khai Nghị quyết 57 trong các cơ sở giáo dục đại học trực thuộc Bộ GD&ĐT đã đạt được những kết quả bước đầu trên nhiều lĩnh vực, như chỉ đạo điều hành, hoàn thiện thể chế, phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ, tăng cường năng lực nghiên cứu, thúc đẩy hợp tác “ba nhà” và chuyển đổi số.

Về công tác chỉ đạo, điều hành, Bộ GD&ĐT đã ban hành 3 kế hoạch trọng tâm để cụ thể hóa việc thực hiện các nghị quyết của Chính phủ và kế hoạch của Ban Chỉ đạo Trung ương. Bộ tổ chức hội nghị quán triệt Nghị quyết 57 tới địa phương và cơ sở giáo dục đại học; triển khai các đề án phát triển nguồn nhân lực và hợp tác “Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp”; phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài chính tổ chức các hội nghị tập huấn, hội thảo về quản lý khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Nhiều cơ sở giáo dục đại học đã tổ chức phổ biến Nghị quyết, ban hành chương trình hành động và lồng ghép mục tiêu của Nghị quyết 57 vào chiến lược phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của đơn vị. Tuy nhiên, mức độ và hiệu quả triển khai giữa các cơ sở giáo dục đại học vẫn chưa đồng đều, một số đơn vị còn chậm cụ thể hóa các nhiệm vụ trong chiến lược phát triển của nhà trường.

Về hoàn thiện thể chế, năm 2025 Bộ GD&ĐT tham gia phối hợp với các cơ quan của Chính phủ, Quốc hội và các đơn vị liên quan xây dựng, trình Quốc hội thông qua 30 luật, trong đó có 7 luật về chuyển đổi số, 8 luật về khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, 15 luật chung cho cả hai lĩnh vực. Chính phủ cũng ban hành 68 nghị định, 60 thông tư, góp phần tháo gỡ nhiều điểm nghẽn, tạo hành lang pháp lý quan trọng cho phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Bộ GD&ĐT đồng thời trình và ban hành một số văn bản quan trọng, như: Nghị định số 238/2025/NĐ-CP quy định về cơ chế thu, quản lý học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập; giá dịch vụ trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo; Quyết định số 29/2025/QĐ-TTg về tín dụng đối với học sinh, sinh viên, học viên thạc sĩ, nghiên cứu sinh học các ngành khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán.

Bộ GD&ĐT đã soạn thảo, trình ban hành 3 luật: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, Luật Giáo dục đại học (sửa đổi), Luật giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi); trình Chính phủ dự thảo 5 Nghị định và Thủ tướng Chính phủ 4 Đề án, để thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đến nay, Bộ đã hoàn thành 205/213 nhiệm vụ được giao.

Về phát triển nguồn nhân lực khoa học - công nghệ, đào tạo tài năng, các ngành công nghệ chiến lược, Bộ đã ban hành chuẩn chương trình đào tạo vi mạch bán dẫn trình độ đại học và thạc sĩ; chuẩn chương trình đào tạo kỹ sư, thạc sĩ tài năng thuộc các lĩnh vực STEM; đồng thời xây dựng chuẩn chương trình đào tạo trình độ đại học các ngành trong lĩnh vực điện hạt nhân và dự kiến ban hành chuẩn chương trình đào tạo các ngành trong lĩnh vực đường sắt.

Quy mô đào tạo các ngành STEM tiếp tục tăng mạnh. Năm học 2024-2025 có hơn 685.800 sinh viên khối công nghệ - kỹ thuật, chiếm trên 33% quy mô đào tạo đại học, cùng 21.600 học viên cao học (20,3%) và 3.500 nghiên cứu sinh (27,5%). Bộ đã tiếp nhận 185 chương trình đào tạo tài năng do 24 cơ sở giáo dục đại học đề xuất và dự kiến lựa chọn khoảng 80 chương trình để triển khai từ năm 2026.

Về nghiên cứu khoa học và hạ tầng phục vụ nghiên cứu, các cơ sở giáo dục đại học trực thuộc Bộ đã đăng ký 57 chương trình khoa học công nghệ triển khai Nghị quyết 57. Hệ thống các trường hiện có 184 phòng thí nghiệm có mức đầu tư từ 10 tỷ đồng trở lên, trong đó 140 phòng quy mô 10-30 tỷ đồng, 34 phòng từ 30-100 tỷ đồng và 10 phòng trên 100 tỷ đồng.

Về hợp tác “Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp”, nhiều cơ sở giáo dục đại học đã triển khai các hoạt động hợp tác nghiên cứu và chuyển giao công nghệ với doanh nghiệp và địa phương, đồng thời tham gia 13 mạng lưới trung tâm đào tạo xuất sắc và tài năng về công nghệ 4.0 với hơn 300 thành viên là các cơ sở giáo dục đại học, doanh nghiệp và địa phương.

Trong lĩnh vực chuyển đổi số, Bộ GD&ĐT đã triển khai xây dựng cơ sở dữ liệu ngành giáo dục, trong đó dữ liệu học bạ số đạt trên 10 triệu bản ghi và văn bằng số trên 1 triệu bản ghi; đồng bộ lên ứng dụng VNeID 9,6 triệu học bạ số và hơn 800.000 văn bằng số. Đồng thời, cơ sở dữ liệu giáo dục đại học đã thu thập thông tin từ 479 cơ sở đào tạo, với hơn 176.000 cán bộ, giảng viên và hơn 4,1 triệu hồ sơ người học. Phong trào “Bình dân học vụ số” cũng được triển khai với nhiều chương trình học liệu số và hoạt động tập huấn kỹ năng số cho cán bộ, giáo viên và người học.

nq574.jpg
nq575.jpg
nq576.jpg
nq577.jpg
Đại diện cơ sở giáo dục đại học trao đổi tại Hội nghị.

Các trường chuyển biến mạnh trong tư duy phát triển khoa học - công nghệ

Phát biểu tại Hội nghị, đại diện các cơ sở giáo dục đại học khẳng định, việc triển khai Nghị quyết 57 bước đầu tạo ra sự thay đổi rõ rệt về nhận thức, tư duy trong các trường đại học. Trong đó, chuyển mạnh từ cách tiếp cận nghiên cứu dàn trải sang tập trung vào các lĩnh vực khoa học công nghệ trọng điểm, gắn với nhu cầu phát triển của đất nước và doanh nghiệp. Đồng thời, Nghị quyết cũng góp phần tạo niềm tin của xã hội, phụ huynh và học sinh đối với các ngành khoa học cơ bản và STEM, thể hiện qua xu hướng gia tăng thí sinh giỏi lựa chọn các ngành kỹ thuật, công nghệ tại nhiều trường đại học.

Trên cơ sở định hướng của Nghị quyết, các trường cho biết đã chủ động rà soát và điều chỉnh chiến lược phát triển, xây dựng chương trình hành động và các đề án triển khai cụ thể.

Nhiều cơ sở đào tạo đã hình thành các nhóm nghiên cứu, viện nghiên cứu, phòng thí nghiệm chuyên sâu, tăng cường hợp tác quốc tế và mở rộng liên kết với doanh nghiệp theo mô hình hợp tác “ba nhà” (Nhà nước – Nhà trường – Doanh nghiệp). Một số trường cũng đã mở mới hoặc điều chỉnh chương trình đào tạo theo hướng công nghệ cao, như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, khoa học dữ liệu, giao thông thông minh…

Đồng thời, hoạt động đào tạo sau đại học được đẩy mạnh; ở một số trường, số lượng nghiên cứu sinh và học viên cao học tăng đáng kể. Các trường cũng tích cực triển khai chuyển đổi số trong quản trị, đào tạo và nghiên cứu, đồng thời xây dựng kế hoạch phát triển hạ tầng nghiên cứu và trung tâm đổi mới sáng tạo.

Tuy nhiên, trong quá trình triển khai, các cơ sở giáo dục đại học cũng phản ánh một số khó khăn, vướng mắc. Trong đó, cơ chế, chính sách liên quan đến hoạt động khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo vẫn chưa đồng bộ; nguồn lực đầu tư cho hạ tầng nghiên cứu, phòng thí nghiệm và các chương trình khoa học công nghệ còn hạn chế hoặc triển khai chậm.

Bên cạnh đó, một số vấn đề về tinh giản biên chế, cũng như cơ chế thu hút chuyên gia và nhà khoa học quốc tế vẫn còn vướng mắc. Ngoài ra, việc triển khai các chương trình chuyển đổi số và xây dựng hạ tầng tính toán cho nghiên cứu, ứng dụng trí tuệ nhân tạo đòi hỏi nguồn lực lớn mà nhiều trường chưa thể tự bảo đảm.

Từ thực tiễn triển khai, nhiều cơ sở giáo dục đại học kiến nghị sớm hoàn thiện và ban hành các cơ chế, chính sách liên quan đến định giá tài sản khoa học công nghệ, khởi nghiệp đổi mới sáng tạo và hợp tác công - tư trong nghiên cứu; đẩy nhanh phê duyệt các đề án phát triển và kế hoạch đầu tư cho hạ tầng nghiên cứu, phòng thí nghiệm; đồng thời ban hành hướng dẫn về tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế đối với các đơn vị chưa thực hiện được.

Các trường cũng đề nghị tăng cường hỗ trợ nguồn lực cho chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong giáo dục đại học, qua đó tạo điều kiện để các cơ sở giáo dục đại học phát huy vai trò trung tâm trong phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

nq572.jpg
nq573.jpg
Đại diện các cục, vụ thuộc Bộ trao đổi tại Hội nghị.

Ông Huỳnh Quyết Thắng, Giám đốc Đại học Bách khoa Hà Nội nhận định, điểm khác biệt lớn nhất Nghị quyết 57 mang lại là sự thay đổi về tư duy và triết lý phát triển của các trường đại học, doanh nghiệp cũng như của xã hội, đặc biệt là sự gia tăng niềm tin của phụ huynh và học sinh vào việc theo đuổi các ngành khoa học cơ bản và các lĩnh vực STEM.

Minh chứng cho sự chuyển biến này, trong năm học 2024-2025, điểm chuẩn tuyển sinh của Đại học Bách khoa Hà Nội tăng rõ rệt, cho thấy ngày càng nhiều học sinh giỏi lựa chọn theo học các ngành kỹ thuật và công nghệ. Quy mô đào tạo sau đại học của trường cũng tăng mạnh; chương trình đào tạo kỹ sư chuyên sâu - mô hình đặc thù của nhà trường với sự tham gia của doanh nghiệp - cũng phát triển nhanh.

Từ thực tiễn triển khai, nhận diện thuận lợi và khó khăn, ông Huỳnh Quyết Thắng đề xuất Bộ GD&ĐT nghiên cứu xây dựng một mô hình chung nhằm nâng cao năng lực chuyển đổi số và ứng dụng AI cho toàn bộ hệ thống giáo dục đại học, qua đó tạo nền tảng để các cơ sở đào tạo triển khai đồng bộ trong thời gian tới.

Đại diện khối trường sư phạm, ông Nguyễn Đức Sơn, Hiệu trưởng Trường ĐH Sư phạm Hà Nội đề cập đến 3 hướng chính có thể đóng góp, tham gia triển khai Nghị quyết 57, đó là: nghiên cứu khoa học giáo dục, phát triển khoa học cơ bản, thúc đẩy giáo dục STEM ở bậc phổ thông. Nếu được tạo điều kiện triển khai hiệu quả, các định hướng nêu trên sẽ giúp khối các trường sư phạm đóng góp tích cực vào việc thực hiện Nghị quyết 57.

Đồng thời, ông Nguyễn Đức Sơn cũng bày tỏ mong muốn các chính sách về học bổng cho nghiên cứu sinh trong các lĩnh vực khoa học cơ bản và STEM sớm được cụ thể hóa thành quy định để các trường có cơ sở triển khai tuyển sinh và đào tạo.

nq571.jpg Thứ trưởng Nguyễn Văn Phúc phát biểu tại Hội nghị.

Hành động quyết liệt, đóng góp thiết thực cho tăng trưởng kinh tế

Khẳng định tính đột phá của Nghị quyết 57, qua báo cáo chung của Cục Khoa học, Công nghệ và Thông tin, cũng như ý kiến trao đổi tại Hội nghị, Thứ trưởng Nguyễn Văn Phúc cho biết kết quả bước đầu đạt được là tích cực, rõ nét, từ nhận thức cho đến hành động triển khai cụ thể; tạo động lực, “luồng gió mới” đối với hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong cơ sở giáo dục đại học.

Về triển khai nhiệm vụ trong thời gian tới, Thứ trưởng đề nghị cơ sở giáo dục đại học tiếp tục bám sát và thực hiện tốt theo các kế hoạch triển khai của Bộ GD&ĐT. Với những trường chưa ban hành Nghị quyết, xây dựng kế hoạch triển khai Nghị quyết, cần nhanh chóng hoàn thiện, ban hành.

Thứ trưởng đồng thời đề nghị các trường quan tâm nghiên cứu, góp ý một cách chất lượng các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan; cập nhật, nắm vững đầy đủ các văn bản, quy định để có thể triển khai hiệu quả. Đồng thời, thực hiện nghiêm túc, chất lượng các đề án về khoa học công nghệ được phê duyệt; tiếp tục phát huy các kết quả, mô hình mới để tạo ra kết quả rõ nét, mạnh mẽ hơn; tiếp tục tăng cường các công bố quốc tế, thương mại hóa và chuyển giao công nghệ… Trước thực tế cơ chế chung còn có khó khăn (đặc biệt là vấn đề định giá tài sản, quyền sở hữu trí tuệ), Thứ trưởng cho biết, Bộ GD&ĐT sẽ tiếp tục kiến nghị để có hành lang pháp lý tháo gỡ.

Một số vấn đề khác cũng được Thứ trưởng nhấn mạnh cần tăng cường, thực hiện hiệu quả, liên quan đến: Hợp tác “3 nhà” (Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp); phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh, gắn nghiên cứu khoa học với đào tạo, đặc biệt đào tạo sau đại học; thu hút chuyên gia, nhà khoa học; rà soát cơ sở vật chất, đầu tư cho các phòng thí nghiệm; tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số, bình dân học vụ số; cơ cấu ngành nghề của thị trường lao động tương lai; xây dựng, phát triển chương trình đào tạo; đào tạo nguồn nhân lực; chương trình tài năng, chương trình chất lượng cao; phát triển đội ngũ giảng viên có học vị tiến sĩ…

nq5710.jpg Quyền Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn khẳng định hệ thống giáo dục đại học phải nhận thức rõ trách nhiệm quốc gia trong việc thúc đẩy mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.

Phát biểu kết luận hội nghị, Quyền Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn khẳng định hệ thống giáo dục đại học phải nhận thức rõ trách nhiệm quốc gia trong việc thúc đẩy mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Ông nhấn mạnh tinh thần chủ động, quyết liệt, chuyển hóa bằng hành động thực tiễn với kết quả, sản phẩm cụ thể, đóng góp thiết thực.

Về hành lang pháp lý, Quyền Bộ trưởng nhận định các quy định hiện hành từ Luật đến các văn bản hướng dẫn đã tương đối đầy đủ. Các trường cần nghiên cứu kỹ văn bản để triển khai hiệu quả. Quyền Bộ trưởng cũng đề xuất xây dựng công cụ trí tuệ nhân tạo chuyên biệt giúp tra cứu nhanh chóng các quy định về khoa học công nghệ, hỗ trợ kịp thời cho giảng viên và nhà quản lý.

Về trách nhiệm đóng góp, Quyền Bộ trưởng nhấn mạnh không thể chỉ dừng lại ở việc đếm số lượng bài báo hay so sánh tăng trưởng lượng công bố hàng năm. Khoa học công nghệ phải đóng góp trực tiếp vào nền kinh tế thông qua những sản phẩm nghiên cứu có thể chuyển giao, ứng dụng vào thực tiễn; những đề tài, nhiệm vụ khoa học giải quyết vấn đề cấp bách của đất nước; hay đội ngũ nhân lực chất lượng cao mà các trường đại học đào tạo, đóng vai trò then chốt trong thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Những đóng góp đó cần được chứng minh bằng kết quả cụ thể.

Các cơ sở giáo dục đại học cần thực hiện với tinh thần chủ động và quyết liệt trong mọi nhiệm vụ, giải pháp, đổi mới mạnh mẽ trong tư duy và phương thức làm việc, bảo đảm các chủ trương, chính sách được triển khai hiệu quả trong thực tiễn.

Về đẩy mạnh tinh thần hợp tác để cùng phát triển, Quyền Bộ trưởng đề nghị, trong từng trường, từng đại học, cũng như giữa các cơ sở giáo dục đại học với nhau, cần rà soát và thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa các hoạt động hợp tác. Bên cạnh đó, hợp tác không chỉ dừng lại trong hệ thống giáo dục đại học mà còn cần mở rộng với doanh nghiệp, địa phương và các đối tác liên quan.

Quyền Bộ trưởng nhấn mạnh, việc hợp tác cần được coi là yêu cầu tất yếu, và các chính sách của Bộ cũng như chiến lược phát triển của các trường cần hướng tới thúc đẩy các nhiệm vụ, dự án mang tính liên ngành, liên trường và gắn kết với địa phương, qua đó vừa mở rộng nguồn lực, vừa nâng cao năng lực nghiên cứu và đào tạo của hệ thống giáo dục đại học.

Về hiệu quả và chuyển đổi số, việc phân bổ kinh phí sẽ dựa trên sứ mạng và chất lượng, hiệu quả thực tế. Quyền Bộ trưởng cảnh báo việc lãng phí khi đầu tư thiết bị đắt tiền nhưng ít sử dụng, đồng thời yêu cầu đẩy mạnh cơ chế dùng chung trang thiết bị. Bộ sẽ hoàn thiện hệ thống quản trị đại học số thống nhất và khẩn trương ứng dụng trí tuệ nhân tạo vào quản lý, giảng dạy để đảm bảo tính tự chủ chiến lược trong bối cảnh công nghệ thay đổi mạnh mẽ.