Nữ bác sĩ khoa sản, 32 tuổi, từng nghĩ hành trình làm nghề của mình sẽ dừng lại khi được chẩn đoán mắc bệnh cơ tim giãn cách đây sáu năm. Đây là bệnh lý khiến buồng tim giãn to, giảm khả năng co bóp, dẫn đến suy tim tiến triển và có thể đe dọa tính mạng nếu không điều trị kịp thời.
Chị phát hiện bệnh trong lần mang thai đầu tiên. Sau sinh, chị điều trị nội khoa kéo dài, duy trì thuốc và tái khám định kỳ. Dù vậy, bệnh vẫn âm thầm tiến triển. Một cơn suy tim cấp bất ngờ xảy ra, khiến chị rơi vào tình trạng nguy kịch và phải chuyển tuyến.
Tại bệnh viện tuyến trên, các bác sĩ xác định ghép tim là lựa chọn duy nhất có thể cứu sống chị. Theo các chuyên gia tim mạch, ghép tim được chỉ định cho bệnh nhân suy tim giai đoạn cuối khi điều trị nội khoa không còn hiệu quả. “Khi nghe tư vấn, tôi chỉ mong có thể sống khỏe mạnh như trước, được chăm con và tiếp tục làm nghề”, chị nói.

Sau ghép tim, nữ bác sĩ quay lại làm việc ở mảng khám và điều trị ngoại trú.
Chị và chồng - bác sĩ chẩn đoán hình ảnh quen nhau từ thời học Đại học Y Thái Bình sau đó về công tác tại Tuyên Quang. Những ngày nằm viện chờ tim hiến, con gái nhỏ là động lực lớn nhất để chị kiên trì bám víu sự sống.
Sau 5 năm chống chọi bệnh tật, cơ hội đến vào đầu năm 2025 khi có nguồn tạng từ người hiến chết não phù hợp. Ca ghép được thực hiện tháng 1/2025 và thành công. Sau phẫu thuật, chị trải qua giai đoạn theo dõi, dùng thuốc chống thải ghép và tái khám nghiêm ngặt theo phác đồ.
Ba tháng sau, sức khỏe ổn định, chị quay lại làm việc ở mảng khám và điều trị ngoại trú. Nhịp tim mới giúp chị cảm nhận rõ sự thay đổi về thể lực. Tuy vậy, chị chủ động lựa chọn công việc nhẹ hơn, tránh áp lực kéo dài để bảo vệ trái tim được trao tặng.
Con gái chị năm nay vào lớp 1. Ngoài giờ làm, chị dành thời gian cho gia đình, bù đắp quãng thời gian điều trị kéo dài trước đó. Với chị, được mặc lại áo blouse là một may mắn lớn.
Chị gửi lời tri ân tới gia đình người hiến tạng – những người đưa ra quyết định trong thời khắc mất mát để trao cơ hội sống cho người khác. “Tôi biết mình đang sống bằng một phần sự sống của người khác, vì thế càng phải sống có trách nhiệm hơn”, chị nói.
Ghép mô, tạng là thành tựu y học quan trọng, giúp cứu sống và cải thiện chất lượng sống cho hàng nghìn người bệnh suy tạng giai đoạn cuối. Tại Việt Nam, tổng số ca ghép tạng tính từ năm 1992 đến nay là hơn 9.500 trường hợp; tổng số người đăng ký hiến tạng trong cả nước là hơn 102.000.
Hiện nay nguồn hiến tạng từ người chết/chết não vẫn khan hiếm, trong khi nhu cầu ghép tạng ngày càng tăng. Việt Nam có tỷ lệ ghép tạng cao nhất Đông Nam Á (hơn 1.000 ca/năm) nhưng tỷ lệ hiến tạng sau chết lại thuộc nhóm thấp nhất thế giới.
Các chuyên gia đánh giá, hiện chưa có cơ chế, chính sách rõ ràng cho hoạt động tư vấn hiến tặng mô, tạng từ người chết não, chết tim. Chỉ một số bệnh viện thành lập được tổ tư vấn, vận động hiến tạng do chưa có chế độ đãi ngộ phù hợp.
Ở nhiều nước phát triển, tư vấn hiến tặng mô, tạng tại bệnh viện là một phần quan trọng trong hệ thống y tế. Đội ngũ tư vấn được đào tạo bài bản, hưởng chế độ đãi ngộ hợp lý, giúp gia đình người bệnh hiểu rõ ý nghĩa nhân văn của hiến tạng và đưa ra quyết định đúng đắn. Đây là mô hình Việt Nam cần nghiên cứu, áp dụng phù hợp.