Luật quy định rõ trách nhiệm giao, gửi lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; trách nhiệm của Ủy ban nhân dân và Công an cấp xã; thời hạn trình diện, thủ tục xin phép vắng mặt, thay đổi nơi cư trú, làm việc, học tập; cũng như việc xử lý hành vi vi phạm nghĩa vụ.
1. Cơ sở pháp lý về thi hành biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú
Theo khoản 1 Điều 123 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 quy định: “Cấm đi khỏi nơi cư trú là biện pháp ngăn chặn có thể được áp dụng đối với bị can, bị cáo có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng nhằm bảo đảm sự có mặt của họ theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án”.
Trước đây, BLTTHS đã quy định về căn cứ áp dụng, thẩm quyền ra lệnh, thời hạn và các nghĩa vụ cơ bản của người bị cấm đi khỏi nơi cư trú. Tuy nhiên, những vấn đề liên quan đến tổ chức thi hành, quản lý và giám sát trên thực tế chưa được quy định đầy đủ. Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú đã dành riêng Chương VII, từ Điều 38 đến Điều 44, quy định về thi hành biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Các quy định này làm rõ trách nhiệm của người ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, cơ quan quản lý, theo dõi và người bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; đồng thời thiết lập trình tự giải quyết những tình huống phát sinh trong quá trình áp dụng. Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú điều chỉnh hoạt động thi hành biện pháp ngăn chặn, không thay thế toàn bộ các quy định của BLTTHS về điều kiện, căn cứ, thẩm quyền và thời hạn áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Do đó, khi áp dụng phải xem xét đồng thời các quy định có liên quan khác.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.
2. Quy định cụ thể về việc giao, gửi lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú
Theo Điều 38 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú quy định về việc gửi lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú và phổ biến quyền, nghĩa vụ cho người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn, cụ thể như sau:
1. Ngay sau khi ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, người ra lệnh phải gửi lệnh đó cho các cơ quan, đơn vị, cá nhân sau đây:
a) Cơ sở giam giữ trong trường hợp người bị cấm đi khỏi nơi cư trú đang bị tạm giữ, tạm giam;
b) Trưởng Công an cấp xã nơi người bị cấm đi khỏi nơi cư trú đang cư trú, đơn vị quân đội được giao quản lý, theo dõi người bị cấm đi khỏi nơi cư trú;
c) Cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú Công an cấp tỉnh, cấp quân khu.
2. Người ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú có trách nhiệm phổ biến quyền và nghĩa vụ cho người bị cấm đi khỏi nơi cư trú khi giao lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú cho người đó.
Về việc giao, gửi lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú và trách nhiệm thông báo cho chính quyền địa phương: Khác với quy định trước đây tại khoản 5 Điều 123 BLTTHS chỉ quy định: “Người ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú phải thông báo về việc áp dụng biện pháp này cho chính quyền xã, phường, thị trấn nơi bị can, bị cáo cư trú, đơn vị quân đội đang quản lý bị can, bị cáo và giao bị can, bị cáo cho chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc đơn vị quân đội đó để quản lý, theo dõi họ”. Đối với quy định tại Điều 38 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú thì ngay sau khi cơ quan, người tiến hành tố tụng ban hành lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị can, bị cáo, ngoài việc giao lệnh và phổ biến quyền, nghĩa vụ cho bị can, bị cáo, còn phải thực hiện việc gửi lệnh đến những cơ quan có trách nhiệm quản lý, thi hành như Cơ sở giam giữ trong trường hợp người bị cấm đi khỏi nơi cư trú đang bị tạm giữ, tạm giam; Trưởng Công an cấp xã nơi người bị cấm đi khỏi nơi cư trú đang cư trú, đơn vị quân đội được giao quản lý, theo dõi người bị cấm đi khỏi nơi cư trú; Cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú Công an cấp tỉnh, cấp quân khu. Ngoài ra tại Điều 73 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú cũng đã sửa đổi, bổ sung khoản 5 Điều 123 BLTTHS như sau: “Người ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú phải gửi lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú cho Trưởng Công an cấp xã nơi bị can, bị cáo cư trú, đơn vị quân đội được giao quản lý, theo dõi bị can, bị cáo, cơ quan khác có liên quan để quản lý, theo dõi họ” không có quy định về việc phải thông báo về việc áp dụng biện pháp này cho chính quyền địa phương như quy định trước đây. Tuy nhiên, theo Điều 40 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú vẫn xác định Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm quản lý, theo dõi người bị cấm đi khỏi nơi cư trú; Công an cấp xã trực tiếp giúp Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện nhiệm vụ này. Do đó, trong thực tiễn, việc thông báo cho chính quyền địa phương nơi bị can, bị cáo cư trú và việc gửi lệnh cho Trưởng Công an cấp xã vẫn cần phải được thực hiện đầy đủ các yêu cầu của pháp luật.
Về thời hạn giao, gửi lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú: Tại Điều 123 BLTTHS không có quy định về thời hạn giao, gửi lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, tuy nhiên tại Điều 38 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú có sử dụng cụm từ “ngay sau khi ra lệnh”, không ấn định cụ thể thời hạn bằng số giờ hoặc số ngày cụ thể. Vì vậy, việc giao, gửi lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú phải được thực hiện kịp thời ngay sau khi được ban hành.
3. Quy định về thời hạn trình diện và thủ tục thi hành lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú
BLTTHS không có quy định về việc trình diện của người bị áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Tuy nhiên, theo khoản 2 Điều 39 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú quy định: “Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, người bị cấm đi khỏi nơi cư trú phải trình diện Trưởng Công an cấp xã nơi họ cư trú, đơn vị quân đội được giao quản lý, theo dõi người bị cấm đi khỏi nơi cư trú, trừ trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Trường hợp hết thời hạn 03 ngày mà người bị cấm đi khỏi nơi cư trú không trình diện, Trưởng Công an cấp xã, đơn vị quân đội triệu tập người đó đến trụ sở để làm giấy cam đoan về việc chấp hành nghĩa vụ”.
Quy định này làm rõ thời điểm người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn phải thực hiện nghĩa vụ trình diện lần đầu và trách nhiệm của cơ quan được giao quản lý khi người đó không chủ động trình diện đúng thời hạn. Khoản 3 điều này quy định Trưởng Công an cấp xã hoặc đơn vị quân đội được giao quản lý, theo dõi phải lập hồ sơ quản lý người bị cấm đi khỏi nơi cư trú, trong đó có lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, giấy cam đoan, bản nhận xét về việc chấp hành nghĩa vụ, biên bản vi phạm nếu có và các tài liệu liên quan. Việc quản lý, theo dõi được thực hiện thông qua các biện pháp như quản lý cư trú, triệu tập, điểm danh, kiểm diện và các biện pháp khác theo quy định của pháp luật. Đối với trường hợp bị can, bị cáo đang bị tạm giữ, tạm giam, khoản 1 Điều 39 quy định cơ sở giam giữ có trách nhiệm thực hiện các thủ tục đưa người đó ra khỏi cơ sở giam giữ theo lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú.
Quy định này đòi hỏi sự phối hợp kịp thời giữa cơ quan ra lệnh, cơ sở giam giữ và cơ quan quản lý tại địa phương để bảo đảm việc chuyển từ biện pháp tạm giữ, tạm giam sang cấm đi khỏi nơi cư trú được thực hiện đúng quy định.
4. Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân và Công an cấp xã
Điều 40 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã và đơn vị quân đội được giao quản lý, theo dõi người bị cấm đi khỏi nơi cư trú. Theo đó, Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện việc quản lý, theo dõi người bị cấm đi khỏi nơi cư trú, trừ trường hợp thuộc trách nhiệm của đơn vị quân đội. Công an cấp xã trực tiếp giúp Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện nhiệm vụ quản lý, theo dõi và có trách nhiệm:
- Tiếp nhận, tổ chức quản lý, theo dõi người bị cấm đi khỏi nơi cư trú;
- Yêu cầu người bị cấm đi khỏi nơi cư trú thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết;
- Lập biên bản đối với người vi phạm nghĩa vụ;
- Thực hiện nhiệm vụ giải quyết việc vắng mặt, thay đổi nơi cư trú, làm việc, lao động hoặc học tập theo quy định;
- Thông báo cho cơ quan có thẩm quyền khi phát hiện người bị cấm đi khỏi nơi cư trú vi phạm nghĩa vụ;
- Xác minh, điểm danh, kiểm diện đối với người bị cấm đi khỏi nơi cư trú mà không xin phép.
Đồng thời, Trưởng Công an cấp xã có trách nhiệm báo cáo định kỳ hoặc theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp xã về tình hình thực hiện nhiệm vụ quản lý, theo dõi.
Có thể thấy, Luật đã phân định rõ hơn trách nhiệm quản lý của Ủy ban nhân dân cấp xã và trách nhiệm trực tiếp tổ chức thực hiện của Công an cấp xã, tạo cơ sở cho việc phối hợp giữa chính quyền địa phương và các cơ quan tiến hành tố tụng.
5. Quy định về việc xin phép vắng mặt tại nơi cư trú
Điều 42 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú quy định về việc giải quyết vắng mặt tại nơi cư trú đối với người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn. Theo đó, người bị cấm đi khỏi nơi cư trú có nhu cầu lao động, học tập hoặc vì lý do chính đáng khác có thể được đi khỏi nơi cư trú nếu có đơn xin phép và được người ra lệnh đồng ý.
Trong thời hạn 01 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn, người ra lệnh phải xem xét, giải quyết. Nếu đồng ý thì có văn bản thông báo cho người bị cấm đi khỏi nơi cư trú và thông báo ngay cho Trưởng Công an cấp xã hoặc đơn vị quân đội được giao quản lý, theo dõi. Nếu không đồng ý thì phải thông báo bằng văn bản cho người có đơn và nêu rõ lý do.
Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 30 ngày, trừ trường hợp phải điều trị bệnh tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo chỉ định của bác sĩ và có xác nhận điều trị của cơ sở đó.
Sau khi nhận được thông báo đồng ý của người ra lệnh, Trưởng Công an cấp xã hoặc đơn vị quân đội được giao quản lý, theo dõi thực hiện việc giải quyết cho người đó vắng mặt và thông báo cho Trưởng Công an cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú để phối hợp quản lý, theo dõi.
Người bị cấm đi khỏi nơi cư trú còn phải thực hiện thủ tục khai báo tạm vắng, trình báo với Trưởng Công an cấp xã nơi đến tạm trú, lưu trú và có xác nhận khi hết thời hạn tạm trú, lưu trú theo quy định.
Riêng trường hợp đi khỏi nơi cư trú vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn không phải xin phép trước nhưng phải trình diện hoặc báo cáo cơ quan có thẩm quyền ngay sau khi lý do đó chấm dứt.
Đối với Tòa án, quy định này có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết các đơn xin phép vắng mặt của bị can, bị cáo trong thời gian vụ án đang được thụ lý, giải quyết.
6. Bổ sung thủ tục thay đổi nơi cư trú, làm việc, lao động hoặc học tập
Điều 43 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú quy định cụ thể việc giải quyết trường hợp người bị cấm đi khỏi nơi cư trú có nhu cầu thay đổi nơi cư trú, làm việc, lao động hoặc học tập.
Thứ nhất, trường hợp thay đổi nơi cư trú ra ngoài phạm vi xã, phường, đặc khu. Người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn phải có đơn xin phép gửi người ra lệnh. Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn, nếu đồng ý thì người ra lệnh phải ban hành lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú mới và gửi đến Trưởng Công an cấp xã nơi cư trú mới để quản lý, theo dõi, đồng thời thông báo cho Trưởng Công an cấp xã nơi cư trú cũ. Nếu không đồng ý thì phải thông báo bằng văn bản cho người có đơn và nêu rõ lý do.
Thứ hai, trường hợp thay đổi nơi làm việc, lao động hoặc học tập ngoài địa bàn xã, phường, đặc khu nơi cư trú. Người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn phải có đơn xin phép gửi người ra lệnh. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn, nếu đồng ý thì người ra lệnh có văn bản đồng ý việc thay đổi và thông báo ngay cho Trưởng Công an cấp xã. Trường hợp không đồng ý thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Thứ ba, trường hợp thay đổi nơi cư trú trong phạm vi cùng địa bàn xã, phường, đặc khu hoặc địa bàn do đơn vị quân đội quản lý. Người bị cấm đi khỏi nơi cư trú phải báo cáo người ra lệnh và Trưởng Công an cấp xã hoặc đơn vị quân đội được giao quản lý, theo dõi.
Như vậy, Luật đã phân biệt rõ giữa việc thay đổi nơi cư trú ra ngoài địa bàn quản lý, thay đổi nơi làm việc hoặc học tập ngoài địa bàn và thay đổi địa chỉ cư trú trong cùng địa bàn. Đặc biệt, đối với trường hợp thay đổi nơi cư trú ra ngoài địa bàn, pháp luật yêu cầu ban hành lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú mới thay vì chỉ thông báo hoặc điều chỉnh thông tin cư trú một cách đơn thuần.
7. Quy định về việc xử lý người bị cấm đi khỏi nơi cư trú vi phạm nghĩa vụ
Điều 44 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú quy định việc xử lý đối với người bị cấm đi khỏi nơi cư trú vi phạm nghĩa vụ theo tính chất, mức độ và số lần vi phạm.
Đối với trường hợp người đang bị cấm đi khỏi nơi cư trú tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự theo trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 44, Trưởng Công an cấp xã hoặc đơn vị quân đội được giao quản lý, theo dõi lập biên bản vi phạm nghĩa vụ và đề nghị người có thẩm quyền thay đổi biện pháp ngăn chặn.
Đối với trường hợp vi phạm thuộc khoản 2 Điều 44, nếu vi phạm lần đầu thì cơ quan quản lý lập biên bản, tổ chức kiểm điểm và thông báo cho người ra lệnh; nếu tiếp tục vi phạm nghĩa vụ theo khoản 2 Điều 41 thì lập biên bản và đề nghị thay đổi biện pháp ngăn chặn.
Đối với những hành vi vi phạm nghĩa vụ không thuộc hai trường hợp nêu trên, khoản 3 Điều 44 quy định:
- Vi phạm lần đầu thì Trưởng Công an cấp xã hoặc đơn vị quân đội được giao quản lý, theo dõi người bị cấm đi khỏi nơi cư trú lập biên bản vi phạm nghĩa vụ và tổ chức nhắc nhở họ;
- Vi phạm lần thứ hai thì Trưởng Công an cấp xã hoặc đơn vị quân đội được giao quản lý, theo dõi người bị cấm đi khỏi nơi cư trú lập biên bản vi phạm nghĩa vụ, tổ chức kiểm điểm, nhắc nhở và thông báo cho người ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú;
- Vi phạm lần thứ ba thì Trưởng Công an cấp xã hoặc đơn vị quân đội được giao quản lý, theo dõi người bị cấm đi khỏi nơi cư trú lập biên bản vi phạm nghĩa vụ và đề nghị người có thẩm quyền thay đổi biện pháp ngăn chặn.Quy định này tạo cơ sở pháp lý cụ thể hơn để cơ quan quản lý và cơ quan tiến hành tố tụng xem xét, xử lý hành vi vi phạm nghĩa vụ.
Tuy nhiên, cần lưu ý việc xử lý không phải trong mọi trường hợp đều theo trình tự nhắc nhở lần thứ nhất, kiểm điểm lần thứ hai rồi mới đề nghị thay đổi biện pháp ngăn chặn ở lần thứ ba. Tùy tính chất hành vi và trường hợp được quy định tại Điều 44, việc đề nghị thay đổi biện pháp ngăn chặn có thể được thực hiện sớm hơn.
8. Một số vấn đề cần lưu ý khi áp dụng tại các cơ quan tiến hành tố tụng
Từ các quy định của Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú, để bảo đảm việc ban hành và thi hành lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú được thực hiện thống nhất, đúng quy định pháp luật, Tòa án cần chú ý một số nội dung sau:
Một là, rà soát, cập nhật việc giao, gửi lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Khi ban hành lệnh, cần bảo đảm giao lệnh cho bị can, bị cáo, phổ biến đầy đủ quyền và nghĩa vụ, đồng thời gửi lệnh cho Trưởng Công an cấp xã nơi bị can, bị cáo cư trú và cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú Công an cấp tỉnh. Trường hợp bị can, bị cáo đang bị tạm giữ, tạm giam thì phải gửi lệnh cho cơ sở giam giữ để thực hiện thủ tục theo quy định. Đồng thời, thực hiện nghĩa vụ thông báo cho chính quyền cấp xã theo BLTTHS.
Hai là, bảo đảm việc giao, gửi lệnh được thực hiện kịp thời. Điều 38 quy định phải gửi lệnh ngay sau khi ban hành. Do đó, cần xác định đây là công việc phải thực hiện ngay trong quy trình ban hành lệnh, tránh tình trạng chậm chuyển lệnh làm ảnh hưởng đến việc tiếp nhận, quản lý, theo dõi bị can, bị cáo tại địa phương.
Ba là, thực hiện việc giải thích quyền và nghĩa vụ cho bị can, bị cáo. Khi giao lệnh, cần phổ biến đầy đủ nghĩa vụ trình diện trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận lệnh, nghĩa vụ không đi khỏi phạm vi cư trú khi chưa được phép, nghĩa vụ chấp hành giấy cam đoan và hậu quả pháp lý của việc vi phạm.
Bốn là, giải quyết kịp thời đơn xin phép vắng mặt hoặc thay đổi nơi cư trú. Đối với đơn xin phép vắng mặt, thời hạn giải quyết là 01 ngày làm việc; đối với thay đổi nơi cư trú ra ngoài địa bàn là 10 ngày làm việc; đối với thay đổi nơi làm việc, lao động hoặc học tập ngoài địa bàn là 03 ngày làm việc. Cần theo dõi thời điểm tiếp nhận đơn để bảo đảm thực hiện đúng thời hạn luật định.
Năm là, tăng cường phối hợp với Công an cấp xã. Trong quá trình áp dụng biện pháp ngăn chặn, Tòa án cần phối hợp với cơ quan quản lý tại địa phương để nắm bắt tình hình chấp hành nghĩa vụ của bị can, bị cáo, kịp thời tiếp nhận thông tin về các hành vi vi phạm, phục vụ việc xem xét duy trì, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn theo quy định.
Sáu là, lưu ý việc ban hành lệnh mới khi bị can, bị cáo thay đổi nơi cư trú ra ngoài địa bàn quản lý. Trong trường hợp cho phép bị can, bị cáo thay đổi nơi cư trú sang xã, phường, đặc khu khác, người ra lệnh phải ban hành lệnh mới và gửi đến Trưởng Công an cấp xã nơi cư trú mới, đồng thời thông báo cho nơi cư trú cũ.
Bảy là, phân biệt quy định về áp dụng và thi hành biện pháp ngăn chặn. Điều kiện, căn cứ, thẩm quyền, thời hạn áp dụng, gia hạn, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn cần được xem xét theo BLTTHS; còn trình tự giao, gửi lệnh, quản lý, theo dõi, giải quyết vắng mặt, thay đổi nơi cư trú và xử lý vi phạm nghĩa vụ thực hiện theo Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú và các quy định pháp luật có liên quan.
PHẠM CAO SƠN
Tòa án Quân sự khu vực Quân chủng Hải quân