Thay mặt Chính phủ trình bày tóm tắt Tờ trình, Đại tướng Lương Tam Quang, Bộ trưởng Bộ Công an cho biết, về cơ sở chính trị, pháp lý, việc xây dựng Chương trình dựa trên căn cứ Kết luận số 56 ngày 24/6/2026 của Bộ Chính trị về khẩn trương xây dựng triển khai thực hiện hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống tội phạm giai đoạn 2026 - 2035 và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về phòng, chống tội phạm ma túy, đầu tư công, ngân sách nhà nước.
Về cơ sở thực tiễn, việc xây dựng Chương trình xuất phát từ tình hình tội phạm và ma túy trong nước và thế giới diễn biến hết sức phức tạp, xuất hiện nhiều phương thức thủ đoạn mới, tinh vi, chưa có tiền lệ và nhiều nguy cơ thách thức phi truyền thống, tác động đến công tác phòng chống tội phạm và ma túy.
Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy và tội phạm giai đoạn 2026 - 2035 được chia thành 2 giai đoạn với tổng vốn đầu tư như sau:
- Giai đoạn 1 (2026 - 2030): Tổng vốn là 45.301 tỉ đồng, trong đó 22.450 tỉ đồng đã được phê duyệt tại Nghị quyết 163 và đề nghị bổ sung 22.851 tỷ đồng cho công tác phòng, chống tội phạm.
- Giai đoạn 2 (2031 - 2035): Tổng vốn là 18.151 tỉ đồng. Kết thúc giai đoạn 1, căn cứ kết quả thực hiện, Chính phủ báo cáo Quốc hội nguồn lực kinh phí để thực hiện giai đoạn 2 theo quy định.

Đại tướng Lương Tam Quang, Bộ trưởng Bộ Công an trình bày tóm tắt Tờ trình của Chính phủ.
Mục tiêu của Chương trình là phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và toàn xã hội trong phòng chống ma túy và tội phạm; lấy người dân làm trung tâm, địa bàn cấp xã là nền tảng, ứng dụng khoa học công nghệ, đầu tư trang thiết bị, thực hiện đồng bộ các giải pháp nâng cao hiệu quả trong phòng chống ma túy và tội phạm; lấy phòng ngừa là chính, chủ động phòng ngừa từ sớm, từ xa, từ cơ sở nhằm kéo giảm bền vững tội phạm, giảm cung, giảm cầu, giảm tác hại của ma túy.
Về giải pháp thực hiện chương trình, Bộ trưởng Bộ Công an cho biết, Báo cáo đưa ra sáu giải pháp gồm: xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật, tập trung nguồn lực và có cơ chế huy động, bố trí phân bổ nguồn lực, tổ chức hiệu quả bộ máy, tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát, tăng cường công tác truyền thông, tuyên truyền công tác phòng chống tội phạm, tăng cường ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ, mở rộng hợp tác quốc tế.
Trình bày Báo cáo tóm tắt thẩm tra chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy và tội phạm giai đoạn 2026 - 2035, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Phan Chí Hiếu nêu rõ, Ủy ban Pháp luật và Tư pháp và các cơ quan của Quốc hội tham gia thẩm tra nhận thấy Chương trình đáp ứng tiêu chí xác định chương trình mục tiêu quốc gia và thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội.
Ủy ban Pháp luật và Tư pháp tán thành sự cần thiết đầu tư Chương trình nhằm cụ thể hóa các chủ trương, định hướng của Đảng về tăng cường công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới; đồng thời tích hợp Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy đến năm 2030 đã được Quốc hội phê duyệt tại Nghị quyết số 163. Chương trình phù hợp với Chiến lược phòng, chống ma túy, tội phạm, Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, cơ bản không trùng lặp với chương trình mục tiêu quốc gia khác.
Tuy vậy, Ủy ban Pháp luật và Tư pháp đề nghị cơ quan chủ trì xây dựng Chương trình tiếp tục rà soát, đối chiếu các nhiệm vụ cụ thể có nội dung tương đồng, giao thoa với các chương trình mục tiêu quốc gia khác; làm rõ phạm vi, đối tượng, địa bàn, sản phẩm đầu ra và nguồn kinh phí thực hiện; trên cơ sở đó nghiên cứu phương án lồng ghép phù hợp đối với các nội dung có thể tích hợp, đảm bảo không trùng lặp về nhiệm vụ và kinh phí, phát huy hiệu quả nguồn lực trong thực hiện mục tiêu Chương trình.
Trong đó đáng chú ý, về kinh phí thực hiện Chương trình, nguyên tắc phân bổ vốn, Ủy ban Pháp luật và Tư pháp và các cơ quan của Quốc hội đề nghị rà soát làm rõ căn cứ xác định kinh phí của từng dự án, tiểu dự án thành phần, nguyên tắc, căn cứ quy định cho phép Chính phủ điều chỉnh cơ cấu vốn đầu tư công, kinh phí thường xuyên, ngân sách trung ương và tiếp tục cân đối ngân sách trung ương, hỗ trợ bổ sung cho Chương trình trong quá trình thực hiện; trách nhiệm cân đối, bố trí phần vốn ngân sách địa phương và cơ chế huy động các nguồn lực hợp pháp khác.
Đồng thời, thuyết minh làm rõ căn cứ xác định nhu cầu và mức kinh phí dự kiến của giai đoạn 2031 - 2035 để bổ sung trong dự thảo Nghị quyết phù hợp với thẩm quyền của Quốc hội. Đề nghị quan tâm ưu tiên hỗ trợ cho địa bàn biên giới.