Mong chính sách nhìn thấy “độ khó” của từng địa bàn
Ngày 8/9, Văn phòng Chính phủ ban hành Văn bản số 9122/VPCP-KGVX, truyền đạt ý kiến của Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu về thực hiện chính sách đối với trẻ em, học sinh, học viên có hoàn cảnh khó khăn và các đối tượng chính sách.
Theo đó, Bộ GD&ĐT được giao chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành rà soát, nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Nghị định 66/2025/NĐ-CP; báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong tháng 11/2026. Đây là nội dung được các cơ sở giáo dục vùng cao đặc biệt quan tâm bởi chính sách hỗ trợ có tác động trực tiếp đến việc duy trì học sinh ở trường, tổ chức bán trú và bảo đảm chất lượng chăm sóc, giáo dục.
Thực tế tại các địa phương miền núi cho thấy, một trong những khó khăn lớn nhất hiện nay là khoảng cách giữa tiêu chí chính sách và điều kiện thực tế của học sinh.
Tại Điện Biên, ông Liễu Tiến Sơn, Hiệu trưởng Trường PTDTBT THCS Na Son, xã Na Son, cho biết trường có hơn 1.300 học sinh, trong đó có nhiều em có hoàn cảnh khó khăn, nhà ở xa, không thể đi về trong ngày. Riêng tại phân hiệu PTDTBT THCS Keo Lôm có khoảng 140 học sinh ở cách xa trường từ 3 – 5km.
“Với đặc thù miền núi, việc các em đi học tương đối xa trong khi ngành đang triển khai học 2 buổi mỗi ngày khiến nhiều em gặp khó khăn. Có em được gia đình đón nhưng cũng có em phải ở lại, ăn mì tôm để chuẩn bị cho buổi học chiều “ – ông Liễu Tiến Sơn chia sẻ.
Con số này phần nào phản ánh bài toán mà nhiều trường vùng cao đang phải đối mặt. Có những học sinh không thuộc diện được hưởng chính sách theo tiêu chí hành chính, nhưng khoảng cách từ nhà đến trường, điều kiện giao thông và hoàn cảnh gia đình vẫn khiến việc duy trì học tập trở thành thử thách.
Những bữa cơm bán trú giúp học sinh yên tâm học tập.
“Độ khó” của một địa bàn miền núi vì thế không phải lúc nào cũng có thể nhìn nhận chỉ bằng một tiêu chí. Đối với học sinh vùng cao, được đến trường không chỉ cần sách vở, quần áo hay phòng học. Nhiều em cần một chỗ ở ổn định, một bữa ăn đủ dinh dưỡng và sự chăm sóc của thầy cô trong những ngày xa gia đình.
Bởi vậy, việc Chính phủ yêu cầu rà soát, phân tích dữ liệu về danh mục xã, thôn theo trình độ phát triển để tham mưu chính sách phù hợp với từng địa bàn được kỳ vọng sẽ giúp chính sách sát hơn với cuộc sống.
Ông Sơn bày tỏ: “Chúng tôi mong muốn các tiêu chí khi xây dựng chính sách mới có thể phản ánh đầy đủ hơn những yếu tố như khoảng cách đến trường, điều kiện giao thông, địa hình, khả năng đi về trong ngày, điều kiện kinh tế của gia đình và đặc thù miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số”.
Cần chính sách rõ ràng và ổn định
Từ thực tế nhiều năm tổ chức bán trú, ông Nguyễn Văn Dũng, Hiệu trưởng Trường PTDTBT Tiểu học và THCS Nậm Hàng (xã Nậm Hàng, Lai Châu) cho biết, công tác bán trú luôn là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của nhà trường. Để tổ chức tốt hoạt động dạy học, việc chăm lo ăn, ở cho học sinh đòi hỏi nhà trường phải chủ động xây dựng kế hoạch ngay từ đầu năm học.
Ở trường bán trú, công việc của giáo viên không dừng lại ở giờ lên lớp. Thầy cô còn phải quản lý học sinh ngoài giờ học, phối hợp tổ chức bếp ăn, theo dõi sức khỏe, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, chăm lo sinh hoạt và vận động các em duy trì việc học. Chính vì vậy, chính sách hỗ trợ học sinh vùng khó không đơn thuần là câu chuyện tiền ăn hay tiền ở. Đằng sau mỗi chế độ là cả một hệ thống hoạt động của nhà trường.
“Một chính sách rõ ràng, ổn định và phù hợp sẽ giúp nhà trường chủ động xây dựng phương án tổ chức bán trú, bố trí nhân lực, cơ sở vật chất, thực phẩm; giáo viên cũng có thêm điều kiện tập trung cho chuyên môn thay vì thường xuyên phải xử lý những khó khăn phát sinh từ đời sống học sinh” – ông Nguyễn Văn Dũng bày tỏ.
Trường học vùng cao mong chờ chính sách phù hợp với từng địa bàn.
Theo Văn bản 9122/VPCP-KGVX, Bộ Dân tộc và Tôn giáo được yêu cầu phối hợp với Bộ GD&ĐT tạo rà soát, phân tích dữ liệu về danh mục xã, thôn theo trình độ phát triển để tham mưu chính sách phù hợp với từng địa bàn. Đây được xem là hướng tiếp cận có ý nghĩa đối với các tỉnh miền núi, nơi điều kiện giữa các địa bàn có sự khác biệt rất lớn.
“Chúng tôi mong muốn các quy định mới theo hướng dễ thực hiện, rõ đối tượng, giảm thủ tục và quan trọng nhất là có khả năng bao quát được những trường hợp khó khăn phát sinh trong thực tế” - ông Nguyễn Đắc Thuấn, Hiệu trưởng Trường PTDTBT Tiểu học và THCS Tà Tổng (xã Tà Tổng, Lai Châu) chia sẻ.
Không để chính sách bị “đứt quãng”
Văn bản 9122/VPCP-KGVX yêu cầu Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp rà soát, tổng hợp, báo cáo cấp có thẩm quyền bố trí nguồn ngân sách Trung ương để thực hiện đầy đủ, kịp thời các chế độ, chính sách đối với người học, nhất là tại vùng dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, ven biển và hải đảo.
Đồng thời, việc xuất cấp gạo dự trữ quốc gia được yêu cầu xem xét theo đúng khung thời gian dự kiến 4 đợt của địa phương, để các cơ sở giáo dục chủ động cấp phát cho học sinh theo từng giai đoạn của học kỳ.
Với các trường bán trú, đây là yêu cầu rất thiết thực. Bởi hoạt động nuôi dưỡng học sinh cần được xây dựng kế hoạch từ sớm. Nhà trường phải biết nguồn lực mình có, số học sinh được hưởng chính sách, thời gian và mức hỗ trợ để chủ động tổ chức bếp ăn, mua sắm thực phẩm và bố trí nhân lực.
“Sự ổn định, kịp thời của chính sách là điều kiện để giáo viên giảm bớt áp lực và dành nhiều thời gian hơn cho nhiệm vụ dạy học. Ở góc độ quản lý, việc hoàn thiện chính sách cũng giúp các trường xây dựng kế hoạch giáo dục ổn định hơn” – ông Vũ Tiến Hóa, Phó Giám đốc Sở GD&ĐT tỉnh Lai Châu chia sẻ.
Văn bản của Chính phủ yêu cầu các địa phương rà soát những học sinh trước đây thuộc địa bàn đặc biệt khó khăn nhưng sau khi ban hành danh sách địa bàn mới không còn được hưởng chính sách; đồng thời xác định cụ thể số lượng, mức độ khó khăn và nhu cầu hỗ trợ của học sinh.
Việc rà soát, sửa đổi Nghị định 66/2025/NĐ-CP mang đến kỳ vọng mới cho giáo dục vùng cao Đặc biệt, trước mắt, các địa phương phải chủ động huy động, bố trí nguồn lực hợp pháp để bảo đảm các điều kiện thiết yếu về ăn, ở và học tập cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn ngay từ đầu năm học 2026-2027. Đây là yêu cầu có ý nghĩa quan trọng với những địa phương có đông học sinh dân tộc thiểu số, địa bàn rộng, giao thông còn nhiều khó khăn như Điện Biên, Lai Châu.
Thực tế giáo dục vùng cao những năm qua cho thấy, hệ thống trường nội trú, bán trú ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc giữ học sinh ở lại trường. Tuy nhiên, khoảng cách địa lý, điều kiện kinh tế và đặc thù dân cư vẫn là những rào cản lớn.
Trên cơ sở rà soát việc thực hiện chính sách đối với học sinh, tỉnh Điện Biên đã kiến nghị nghiên cứu mở rộng chính sách hỗ trợ đối với học sinh ở những xã không phải địa bàn biên giới nhưng còn khó khăn, có đông học sinh dân tộc thiểu số, nhà ở xa trường và đi lại khó khăn; đồng thời nghiên cứu đầu tư thêm trường phổ thông nội trú liên cấp tại những địa bàn này và mở rộng đối tượng tuyển sinh sang các xã lân cận.
Những kiến nghị từ cơ sở cho thấy nhu cầu hoàn thiện chính sách không chỉ xuất phát từ một trường học hay một địa phương. Đó là yêu cầu chung nhằm bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục.
Vì vậy, việc rà soát, sửa đổi Nghị định 66/2025/NĐ-CP theo yêu cầu của Chính phủ được kỳ vọng sẽ tạo thêm một bước chuyển trong chính sách hỗ trợ học sinh vùng khó.