xuân

Gieo ước mơ nơi biên giới

GD&TĐ - Ở vùng biên Thanh Hóa, những mái trường nội trú mới đang mở ra cơ hội học tập tốt hơn, giữ trẻ ở lại với lớp học và gieo niềm tin tương lai.

LTS: “Gieo ước mơ nơi biên giới" là loạt phóng sự ghi lại hành trình từ gian khó của thầy và trò vùng cao đến những ngôi trường nội trú được dựng lên hôm nay. Có trường nội trú - một hành trình khác đang mở ra, nơi trẻ em được học tập tốt hơn và thầy cô có thêm một điểm tựa để ở lại với bản làng.

Có những đứa trẻ lớn lên cùng những con dốc và bữa cơm tự nấu, có những người thầy năm tháng đi qua trong căn phòng trọ chật hẹp. Ở vùng biên, con chữ chưa bao giờ là hành trình dễ dàng.

Những đứa trẻ trọ học để giữ lấy con chữ

Buổi trưa ở bản Bôn, căn bếp nhỏ của một nhà dân gần Trường THCS Yên Khương (xã Yên Khương) có một cậu bé 12 tuổi lúi húi nấu cơm. Lò Gia Hưng đã quen với công việc ấy.

Từ ngày xuống trọ học, mỗi sáng Hưng tự thức dậy, vệ sinh cá nhân rồi đến trường. Tan học, em trở về phòng, tự vào bếp nấu bữa trưa. Những việc mà ở tuổi của Hưng, nhiều đứa trẻ vẫn có cha mẹ chăm chút từng chút một, với em đã trở thành chuyện thường ngày.

Nhà Hưng ở bản Xắng Hằng, cách trường khoảng 15km. Con đường về nhà không chỉ dài mà còn là những dốc núi, sông suối, những đoạn tràn chằng chịt. Mùa mưa, đường càng trở nên hiểm trở. Với những gia đình ở đây, miếng ăn nhiều khi còn phải chạy từng bữa thì chuyện đưa con đi học rồi đón về hai lần mỗi ngày gần như là điều không thể. Vậy là những đứa trẻ chọn cách ở lại.

1788239085540-8616293592802950634-8616293592802950634-cd60ae0d4838f4eb3179812b85adbe18.jpg Ở trọ, các em phải tự túc nấu cơm, phục vụ chính mình sau buổi học.

Lê Thảo Nguyên, ở thôn Vịn, xã Bát Mọt, cũng là một trong số đó. Nhà Nguyên nằm tận vùng biên, nơi đường đến trường bị chia cắt bởi những con suối, khe núi. Mỗi mùa mưa, sạt lở lại khiến con đường vốn đã xa càng trở nên nhọc nhằn. Gần 15km đường núi, có những hôm phải mất gần nửa ngày mới đi hết.

Bố mẹ Nguyên đành cho con ở trọ để em kịp giờ đến lớp, cuối tuần, mới trở về nhà. Trở lại trường, trong hành trang của em thường có thêm bao gạo, ít trứng, cá khô… những thứ bố mẹ chắt chiu gửi theo.

Ở vùng biên, những đứa trẻ như Nguyên, như Hưng không hiếm. Các em ở lại gần trường, tự lo bữa ăn, tự giặt giũ, tự chăm sóc mình để đổi lấy những giờ học trên lớp. Nhưng không phải đứa trẻ nào cũng có tiền để trọ học.

Lò Thị Phương Thảo ở bản Giàng, xã Yên Khương, mồ côi bố, mẹ quanh năm đau ốm. Từ nhà đến trường gần 5km đường rừng núi. Hai năm qua, Thảo vẫn đều đặn đi bộ đến lớp mỗi ngày. Em không có tiền ở trọ, cũng không thuộc diện được hưởng chế độ bán trú.

“Khi nào trời mưa lớn, nước ngập thì em mới nghỉ”, Thảo nói. Câu trả lời ngắn ngủi của cô bé khiến con đường đến trường hiện ra dài hơn những con số 5km hay 15km. Bởi phía sau mỗi bước chân của em là một gia đình không đủ điều kiện để đưa đón, là những mùa mưa đường núi bị chia cắt, là một tuổi thơ phải sớm quen với việc tự lo cho mình.

1788231830475-8616293592802950634-8616293592802950634-30dcd63f82470660576b4814292dcb0b.jpg Lò Gia Hưng đã ở trọ từ khi em vào lớp 6.

Ở bản Bôn, xã Yên Khương, ông Vi Hồng Panh dành hẳn một khoảnh đất cho vài giáo viên và học sinh ở trọ. Ông bảo, thương mấy đứa nhỏ mới tí tuổi đã phải sống tự lập. “Chúng nghèo quá, sợ nghèo cả tương lai”, ông Panh nói.

Tôi từng gặp những đứa trẻ như thế ở nhiều điểm trường vùng biên. Một ngày giữa mùa thu, tại điểm trường Tiểu học Trung Lý 2 ở bản Cò Cài, ba chị em Ngân Thị Đoà dựng một túp lều bên trường để học. Đoà khi ấy mới học lớp 5 nhưng đã phải “cõng” theo hai đứa em, một học lớp 3, một còn học mẫu giáo.

Mỗi tháng, bố mẹ gửi cho ba chị em khoảng 30.000 đồng chi tiêu. Hết gạo ăn, Đoà lại xuyên rừng cõng từ nhà xuống theo từng tuần.

Ngày của cô bé bắt đầu từ lúc gà gáy, em dậy hong xôi cho ba chị em. Kết thúc gần nửa đêm, sau khi tranh thủ làm bài lúc các em đã ngủ.

Tôi cũng nhớ một ngày mùa đông ở điểm trường lẻ Trường Tiểu học Trung Lý tại bản Tà Cóm, gió lạnh cắt da. Những đứa trẻ nhà cách trường khoảng 5km, mỗi ngày đi bộ hơn 2h mới đến lớp. Không được ăn bán trú, hành trang đến trường ngoài chiếc cặp sách còn có một đùm cơm nhỏ với chút muối trắng.

Ở những bản làng xa xôi, có những đứa trẻ lớn lên cùng tiếng suối, con dốc và những chuyến đi tìm con chữ như thế nhưng phía bên kia hành trình ấy là những người thầy. Họ cũng đã đi qua những năm tháng thiếu thốn, lặng lẽ đứng lại ở vùng biên, để giữ lớp học không vắng tiếng trẻ.

Hai phía bục giảng, cùng một hành trình gian khó

1788247785040-3798785123140508366-3798785123140508366-5279a06b86be16a100e8d113faf4b49a.jpg Tại các điểm lẻ vùng cao Thanh Hoá, việc người thầy cùng lúc phải dạy 2 trình độ đã là chuyện bình thường.

Suốt gần 30 năm công tác tại Trường THCS Yên Khương, thầy giáo Nguyễn Ngọc Sơn chấp nhận cuộc sống xa vợ con ở quê nhà Hoằng Hóa. Nhà công vụ chật hẹp, xuống cấp, thầy cùng một số đồng nghiệp phải thuê trọ bên ngoài.

1788231830530-8616293592802950634-8616293592802950634-4bfad065f040d3cbc28896dbba71bd69.jpg Cô giáo Đinh Thị Quý cùng con trong căn phòng trọ chật hẹp.

Căn nhà gỗ đơn sơ, phía trong là nơi sinh hoạt của gia đình chủ nhà, khoảng không dành cho các thầy được ngăn lại bằng những tấm broxi măng, nắng lọt qua mái, gió lùa qua vách. Thầy Sơn bảo, 30 năm rồi, mình cũng quen với cảnh này.

Cô giáo Đinh Thị Quý, Trường Tiểu học Yên Khương cũng vậy, nhà cách trường 50km. Gần 19 năm đứng lớp cũng là ngần ấy năm cô ở trọ. Những đứa con của cô lớn lên trong những căn phòng thuê chật chội cùng mẹ. Mùa mưa dột, mùa hè oi bức, mùa đông gió lạnh hun hút.

1788231830540-8616293592802950634-8616293592802950634-ec1c4042ae472cc1c3875ef471da20b5.jpg 19 năm gắn bó với nghiệp gieo chữ là chừng ấy năm cô Quý trong cảnh ở trọ tạm bợ.

Còn gia đình thầy Vũ Thế Hậu, giáo viên Trường THCS Bát Mọt, may mắn hơn khi được bố trí nhà công vụ. Nhưng căn phòng vài chục mét vuông đã chật chội, xuống cấp. Không ít lần thầy nghĩ đến chuyện ra ngoài thuê trọ. Rồi những trận mưa lớn, những cung đường sạt lở lại khiến thầy nấn ná. Cứ thế, năm này qua năm khác.

Nhiều năm qua, thầy Hậu đã gắn bó với sự học của đồng bào vùng biên. Những ngày đầu đi dạy, trời mưa lạnh, đường trơn, chiếc xe phải quấn xích mới có thể vượt qua những con đèo cao, dốc đứng. Các thầy mỗi năm lại luân phiên nhau vào bản dạy các điểm lẻ.

Những điểm trường lẻ thường chỉ có 5 – 7 phòng học, vài ba chục học sinh với đủ 5 trình độ. Trong một căn phòng, hai tấm bảng được đặt hai phía, phục vụ một lớp ghép hai trình độ.

Suốt buổi học, giáo viên gần như không có lúc nào được ngồi yên. Đang giảng bài cho học sinh lớp 5 lại quay sang kiểm tra bài tập của học sinh lớp 4. Em làm Toán, em đọc hiểu Tiếng Việt, nhóm khác chờ giảng bài Đạo đức. Thầy và trò, mỗi người một phía của bục giảng, nhưng cùng mang trên vai một nỗi nhọc nhằn.

1788231830508-8616293592802950634-8616293592802950634-6144201ef4d4ec920ab72cce37d37355.jpg Thầy Nguyễn Ngọc Sơn sinh hoạt trong căn phòng tạm ở cạnh trường.

Chẳng những vậy, nhiều năm trước, bản làng không có điện lưới, những ngày mùa đông hay trời mưa là phòng học tối bưng lấy mặt. Thầy trò lại đốt lửa vừa sưởi ấm vừa lấy ánh sáng để học bài… Sự học vùng biên đã từng đi qua những lớp học như thế, những căn phòng như thế, những con đường như thế. Rồi bản có điện, có đường, cuộc sống dần đổi thay. Chỉ có tình yêu với lớp học của những người thầy dường như vẫn vậy.

Nhưng hôm nay, con đường ấy bắt đầu sáng hơn. Những ngôi trường nội trú liên cấp đã hiện hữu ở các xã biên giới Thanh Hóa. Đây không chỉ là những công trình được dựng lên bằng bê tông, sắt thép mà với những đứa trẻ, đó chính là ngôi nhà thứ hai; với những người mẹ từng thấp thỏm khi phải gửi con đi trọ xa nhà, đó là một nỗi lo được đặt xuống; và với những người thầy, đó là thêm một điểm tựa để họ yên tâm bám trường, bám bản, gieo chữ và gieo những ước mơ trên vùng đất còn nhiều gian khó…

Sau Thông báo kết luận số 81-TB/TW ngày 18/7/2025 của Bộ Chính trị về chủ trương đầu tư xây dựng trường học cho các xã biên giới, Thanh Hóa đã khẩn trương khảo sát, lập danh mục đề xuất, trình Chính phủ đầu tư 21 công trình tại 16 xã biên giới đất liền, với tổng mức đầu tư khoảng 1.590 tỷ đồng.

Trong năm 2025, tỉnh triển khai 6 công trình tại Sơn Thủy, Bát Mọt, Yên Khương, Na Mèo, Tam Lư và Tam Thanh, tổng mức đầu tư khoảng 740 tỷ đồng.