xuân

Gần 12 triệu ha đất bị thoái hóa: Cần thay đổi cách sử dụng

(Chinhphu.vn) - Việt Nam có gần 12 triệu ha đất tự nhiên bị thoái hóa, trong đó khoảng 5 triệu ha đất nông nghiệp. Thực trạng này đang đặt ra yêu cầu thay đổi cách tiếp cận: từ tư duy đơn thuần “quản lý đất đai” sang “quản trị sức khỏe đất”, coi đất là một nguồn vốn tự nhiên cần được bảo vệ và phục hồi cho cả hiện tại và tương lai.
Gần 12 triệu ha đất bị thoái hóa: Cần thay đổi cách sử dụng- Ảnh 1.

Sức khỏe sinh thái của đất đang phải đối mặt với áp lực kiệt quệ nghiêm trọng - Ảnh: Chinhphu.vn/Đỗ Hương

Những nghịch lý phía sau các mùa vụ

Đất lâu nay chủ yếu được nhìn nhận như tư liệu sản xuất, phục vụ mục tiêu tăng năng suất và sản lượng nông nghiệp. Tuy nhiên, phía sau những mùa vụ và giá trị nông sản gia tăng là sự suy giảm âm thầm của một nguồn tài nguyên có tốc độ phục hồi cực kỳ chậm.

Theo Công ước Liên Hợp Quốc về chống sa mạc hóa (UNCCD), khoảng 40% diện tích đất trên thế giới đã bị thoái hóa. Mỗi năm, khoảng 12 triệu ha đất tại 110 quốc gia chịu tác động của thoái hóa và sa mạc hóa. Trong khi tự nhiên có thể cần tới hàng trăm năm để hình thành lớp đất mặt, các hoạt động canh tác thiếu bền vững có thể làm mất hoặc suy giảm lớp đất này chỉ trong vài năm.

Tại Việt Nam, gần 12 triệu ha đất tự nhiên, tương đương khoảng một phần ba diện tích cả nước, đang bị thoái hóa; trong đó khoảng 1,2 triệu ha được xác định thoái hóa nghiêm trọng. Đáng chú ý, khoảng 5 triệu ha đất nông nghiệp đã bị suy thoái, tương đương khoảng 40% diện tích đất nông nghiệp. Đây không chỉ là vấn đề môi trường mà còn tác động trực tiếp đến năng suất, sinh kế của nông hộ và an ninh lương thực.

TS. Tô Xuân Phúc, Giám đốc điều hành Chương trình Chính sách lâm nghiệp, Thương mại và Tài chính thuộc Tổ chức Forest Trends, chỉ ra ba nghịch lý trong sản xuất nông nghiệp hiện nay.

Thứ nhất là nghịch lý "vừa bội thực, vừa đói". Đất đang phải tiếp nhận lượng lớn phân bón hóa học, nước và các yếu tố đầu vào nhằm tối đa hóa năng suất trong ngắn hạn, nhưng lại thiếu chất hữu cơ, dinh dưỡng tự nhiên và hệ vi sinh vật có lợi. Nói cách khác, con người đang "bón" nhiều hơn nhưng chưa chắc đang "nuôi" đất tốt hơn.

Thứ hai là "vay nợ sinh thái". Chi phí suy giảm chất lượng đất thường chưa được phản ánh đầy đủ vào giá thành sản xuất. Vì vậy, một phần giá trị kinh tế tạo ra hôm nay thực chất được đánh đổi bằng sự hao mòn tài nguyên, trong khi chi phí phục hồi sẽ được chuyển sang tương lai.

Thứ ba là "sự phản kháng của đất". Khi cấu trúc vật lý, hóa học và sinh học của đất bị phá vỡ, đất dần mất khả năng tự phục hồi. Xói mòn, bạc màu, chua hóa, suy giảm đa dạng sinh học là những dấu hiệu cho thấy hệ sinh thái đất đang tiến gần các ngưỡng nguy hiểm.

Thực tế tại nhiều vùng chuyên canh đã cho thấy những cảnh báo này không còn xa. Ông Nguyễn Thanh Tâm, Giám đốc Công ty Cổ phần TMT Consulting, cho biết kết quả phân tích mẫu đất hằng năm tại một số vùng trồng cà phê ở Tây Nguyên và Tây Bắc cho thấy tình trạng chua hóa đáng lo ngại. Nhiều mẫu có độ pH dưới 4,5, thậm chí một số vườn xuống mức 3,7-3,8, khiến khả năng hấp thụ dinh dưỡng của cây bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Tại các vùng đồi dốc Tây Bắc, việc làm sạch cỏ trên bề mặt đất trong cả mùa mưa và mùa khô còn làm gia tăng nguy cơ rửa trôi, xói mòn và sạt lở. Khi lớp phủ tự nhiên bị loại bỏ, đất canh tác có thể suy giảm nhanh chóng chỉ sau một số mùa vụ.

Từ "quản lý đất" sang "quản trị sức khỏe đất"

Trước thực trạng trên, câu hỏi không còn chỉ là làm thế nào để sử dụng đất hiệu quả hơn, mà là làm thế nào để đất có thể tiếp tục duy trì khả năng nuôi dưỡng sự sống trong dài hạn.

TS. Phạm Tuấn Anh, nguyên Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đắk Nông, đề xuất cách tiếp cận mới về "quyền của đất". Theo đó, quyền khai thác và sử dụng đất của con người cần đi cùng giới hạn sinh thái, nhằm bảo đảm đất vẫn có khả năng tự điều tiết và phục hồi.

Cách tiếp cận này dựa trên bốn nguyên tắc: tôn trọng giới hạn chịu tải của hệ sinh thái; bảo đảm trách nhiệm giữa các thế hệ; sử dụng đất đi đôi với nghĩa vụ duy trì, phục hồi sức khỏe đất; đồng thời ưu tiên phòng ngừa, phát hiện sớm và khắc phục suy thoái trước khi đất vượt qua ngưỡng mất khả năng tự phục hồi.

Từ đó, đất cần được bảo vệ trên ba phương diện cốt lõi: duy trì cấu trúc vật lý để hạn chế xói mòn và nén chặt; duy trì cân bằng hóa học nhằm kiểm soát chua hóa, mặn hóa và ô nhiễm; bảo vệ sự sống sinh học, bao gồm hệ vi sinh vật và thảm phủ tự nhiên.

Một đề xuất đáng chú ý là thí điểm mô hình "Giám hộ đất" (Soil Guardianship). Theo TS. Phạm Tuấn Anh, đây không phải một tầng nấc quản lý hành chính mới mà là cơ chế chia sẻ trách nhiệm giữa Nhà nước, cộng đồng, người sử dụng đất, doanh nghiệp, tổ chức xã hội và giới khoa học.

Các chủ thể cùng tham gia theo dõi sức khỏe đất, nhận diện sớm dấu hiệu suy thoái và thúc đẩy những phương thức canh tác có khả năng phục hồi hệ sinh thái. Mục tiêu cuối cùng là biến bảo vệ đất từ trách nhiệm riêng của cơ quan quản lý hoặc người nông dân thành một trách nhiệm chung của toàn xã hội.

Ở cấp độ chính sách, điều này đòi hỏi chuyển từ "quản lý đất đai" sang "quản trị sức khỏe đất". Các chỉ số về vật lý, hóa học và sinh học của đất cần được xem xét trong quy hoạch, quản lý và sản xuất nông nghiệp, thay vì chỉ tập trung vào diện tích, mục đích sử dụng hay năng suất.

Ông Nguyễn Thanh Tâm cho rằng việc áp dụng các tiêu chuẩn sản xuất bền vững, trong đó có nông nghiệp tái sinh và Rainforest Alliance, có thể tạo ra lộ trình thực tế cho nông dân. Chẳng hạn, việc duy trì và nâng dần tỷ lệ thảm phủ trong các vườn cà phê có thể giúp hạn chế rửa trôi, giữ ẩm và cải thiện hệ sinh thái đất.

Đất không phải nguồn tài nguyên có thể khai thác vô hạn. Nếu năng suất hôm nay được đánh đổi bằng sự suy kiệt của đất, xã hội đang tạo ra một "khoản nợ sinh thái" mà thế hệ sau phải trả.

Vì vậy, bảo vệ sức khỏe đất cần được nhìn nhận không chỉ là nhiệm vụ môi trường mà còn là chiến lược bảo vệ sinh kế, an ninh lương thực và năng lực phát triển dài hạn. Chuyển từ tư duy "quản lý đất" sang "quản trị sức khỏe đất" chính là cách để biến đất từ một tư liệu sản xuất ngắn hạn thành "vốn tự nhiên" được gìn giữ cho tương lai.

Đỗ Hương

Tham khảo thêm
Khơi thông nguồn lực về vốn, đất đai, đầu tư và bảo đảm dòng tiền cho sản xuất, kinh doanhKhơi thông nguồn lực về vốn, đất đai, đầu tư và bảo đảm dòng tiền cho sản xuất, kinh doanh
Tham khảo thêm
Tháo gỡ các điểm nghẽn, khơi thông và phát huy hiệu quả nguồn lực đất đai phục vụ phát triển kinh tế - xã hộiTháo gỡ các điểm nghẽn, khơi thông và phát huy hiệu quả nguồn lực đất đai phục vụ phát triển kinh tế - xã hội
Tham khảo thêm
Hướng đến giải quyết kịp thời những vấn đề cấp bách phát sinh từ thực tiễn thi hành Luật Đất đaiHướng đến giải quyết kịp thời những vấn đề cấp bách phát sinh từ thực tiễn thi hành Luật Đất đai