xuân

Đồng hành, kiến tạo tương lai: Vì một Việt Nam khỏe mạnh

GD&TĐ - Sáng 11/8, dưới sự chỉ đạo của Bộ GD&ĐT, Vụ Học sinh Sinh viên và Báo Giáo dục và Thời đại tổ chức Hội thảo “Đồng hành, kiến tạo tương lai: Vì một Việt Nam khỏe mạnh”.

Tham dự Hội thảo có ông Hoàng Đức Minh – Vụ trưởng Vụ Học sinh Sinh viên (Bộ GD&ĐT); nhà báo Triệu Ngọc Lâm – Tổng biên tập Báo Giáo dục và Thời đại; ông Nguyễn Hải Toàn – Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục Mầm non; bà Nguyễn Thị Thanh Minh - Phó Cục trưởng Cục Quan hệ quốc tế;

PGS.TS Nguyễn Thị Nhung - PCT Hội Tiết chế Dinh dưỡng Việt Nam; Trưởng khoa Dinh dưỡng Học đường và tuổi học đường, Viện Dinh dưỡng Quốc gia; TS. Bác sĩ Nguyễn Hồng Trường – Phó Viện trưởng Viện Dinh dưỡng; Ths. Bs Trịnh Hồng Sơn – Giám đốc Trung tâm Giáo dục truyền thông dinh dưỡng; TS Nguyễn Thị Hồng Diễm - Phó Trưởng phòng Kiểm soát bệnh không lây nhiễm và dinh dưỡng, Viện dinh dưỡng; bà Lê Anh Lan – chuyên gia Giáo dục, Tổ chức Nhi đồng Liên Hợp Quốc tại Việt Nam; ông Nguyễn Văn Dĩnh – PGĐ Sở GD&ĐT Thanh Hoá; ông Nguyễn Vinh Thanh – PGĐ Sở GD&ĐT Bắc Ninh; bà Tô Thị Ánh – PGĐ Sở GD&ĐT Lào Cai; ông Phạm Thế Quyền – Giám đốc Nghiên cứu và Phát triển, Tập đoàn TH; bà Nguyễn Quỳnh Vân - Viện phó Viện Dinh dưỡng TH; PGS.TS Lê Văn Hùng - Hiệu trưởng Trường Đại học Thành Đông; PGS.TS Nguyễn Văn Hoà - Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh Bắc.

Hội thảo cũng có sự tham gia của nhiều chuyên gia, nhà quản lý, doanh nghiệp, tổ chức trong nước và quốc tế.

Đồng bộ nguồn lực để chăm sóc sức khỏe học đường

ong-minh-11-8.jpg Ông Hoàng Đức Minh - Vụ trưởng Vụ Học sinh, sinh viên (Bộ GD&ĐT).

Phát biểu đề dẫn, ông Hoàng Đức Minh - Vụ trưởng Vụ Học sinh, sinh viên (Bộ GD&ĐT) dẫn lời Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: “Một dân tộc muốn khỏe phải bắt đầu từ trẻ em. Một nền thể thao mạnh phải bắt đầu từ trường học”; đồng thời nhắc đến hai nghị quyết quan trọng của Bộ Chính trị: Nghị quyết số 72-NQ/TW về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân; Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục - đào tạo.

Trong đó, triển khai thực hiện Nghị quyết số 72-NQ/TW, các quy định của Luật Phòng bệnh và Nghị định số 165/2026/NĐ-CP, Bộ GD&ĐT đã trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 973/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình Sức khoẻ học đường giai đoạn 2026-2035.

Trên cơ sở Chương trình được phê duyệt, Thủ tướng Chính phủ giao cho các bộ, cơ quan liên quan, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch triển khai Chương trình theo tinh thần 6 rõ: “rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ thời gian, rõ kết quả”.

Triển khai nhiệm vụ được Thủ tướng Chính phủ giao tại Chương trình Sức khoẻ học đường giai đoạn 2026-2035, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã ban hành Kế hoạch triển khai Chương trình Sức khoẻ học đường của ngành Giáo dục giai đoạn 2026-2035 kèm theo Quyết định số 1991/QĐ-BGDĐT.

Mục tiêu chung của Chương trình là nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác y tế trường học và các hoạt động tuyên truyền, giáo dục, bảo vệ, chăm sóc, quản lý sức khỏe trong các cơ sở giáo dục nhằm bảo đảm điều kiện để người học phát triển toàn diện về thể chất, tinh thần; góp phần thực hiện các mục tiêu, giải pháp về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân.

dai-bieu-2.jpg Các đại biểu tham dự Hội thảo.

Ông Hoàng Đức Minh nhận định: Giai đoạn 2019-2025, mặc dù các điều kiện về nhân lực, cơ sở vật chất, thiết bị triển khai hoạt động chăm sóc sức khỏe người học đã có những cải thiện đáng kể, tuy nhiên ở nhiều nơi, các điều kiện đảm bảo về nhân lực, cơ sở vật chất phục vụ công tác y tế trường học còn rất hạn chế, đặc biệt ở khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa.

Hệ thống chính sách về chăm sóc sức khỏe người học, dinh dưỡng học đường chưa hoàn thiện đầy đủ nên việc tổ chức, quản lý sức khỏe người học, chăm sóc dinh dưỡng học đường, giám sát bữa ăn học đường vẫn còn nhiều hạn chế.

Công tác chỉ đạo, điều hành, phối hợp liên ngành ở một số nơi chưa đồng bộ, quyết liệt. Công tác phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong thực hiện chế độ ăn khoa học, hợp lý, đảm bảo dinh dưỡng cho người học ở một số cơ sở giáo dục chưa thật sự hiệu quả. Ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số còn hạn chế…

Về giải pháp, ông Hoàng Đức Minh nhấn mạnh đầu tiên là nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện chính sách; trong đó, hướng tới một số vấn đề như: hướng dẫn sửa đổi các quy định về danh mục thiết bị, các kỹ thuật thiết yếu trong công tác y tế trường học, qua đó hỗ trợ các đơn vị ở cơ sở xây dựng, hoàn thiện các tiêu chuẩn về trường học, cơ sở vật chất và trang thiết bị...; các quy định về vị trí việc làm và định mức số lượng người làm việc; các quy định về dinh dưỡng, tổ chức bữa ăn…

Cùng với đó, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số; tăng cường về truyền thông, giáo dục chăm sóc sức khỏe và xây dựng nhân rộng mô hình; tăng cường và tích cực phối hợp, huy động các nguồn lực xã hội…

Ông Hoàng Đức Minh tin tưởng, với sự phối hợp, đồng hành của các bên, các kết nối và thế mạnh của chuyển đổi số, cũng như tinh thần tích cực của các đại biểu và trách nhiệm xã hội trong việc tham gia cùng ngành Giáo dục ở lĩnh vực này, diễn đàn hôm nay sẽ tạo động lực mới để hướng tới một Việt Nam khỏe mạnh trong tương lai.

Gỡ rào cản, kết nối nguồn lực xã hội cho sức khỏe học đường

tbt-trieu-ngoc-lam.jpg Nhà báo Triệu Ngọc Lâm - Tổng Biên tập Báo GD&TĐ phát biểu tại Hội thảo.

Theo nhà báo Triệu Ngọc Lâm - Tổng Biên tập Báo GD&TĐ, chăm sóc sức khỏe học đường không còn là câu chuyện riêng của ngành Giáo dục hay Y tế, mà là nền tảng đối với sự phát triển toàn diện của học sinh và chất lượng nguồn nhân lực tương lai.

Nhận thức rõ vai trò này, ngày 1/6/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 973/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình Sức khỏe học đường giai đoạn 2026-2035. Tiếp đó, ngày 9/7/2026, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quyết định số 1991/QĐ-BGDĐT về kế hoạch triển khai chương trình trong toàn ngành.

Theo nhà báo Triệu Ngọc Lâm, chính sách và mục tiêu đã rõ, vấn đề đặt ra là làm thế nào để tạo chuyển biến thực chất tại từng nhà trường, địa phương và với mỗi học sinh. Trong bối cảnh nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng đa dạng, nguồn lực ngân sách Nhà nước có giới hạn, việc huy động nguồn lực xã hội là yêu cầu tất yếu.

Tuy nhiên, bài toán không chỉ nằm ở việc huy động thêm nguồn lực mà quan trọng hơn là đưa nguồn lực đến đúng nơi cần thiết, sử dụng minh bạch, đúng mục tiêu và tạo ra hiệu quả có thể đo đếm. Đây là bài toán về cơ chế, dữ liệu, niềm tin và khả năng kết nối, trong đó truyền thông, đặc biệt là báo chí chính thống, cần đóng vai trò “đi trước, mở đường”.

Truyền thông về sức khỏe học đường không chỉ cung cấp kiến thức về dinh dưỡng, vệ sinh, phòng chống bệnh học đường, an toàn thực phẩm, vận động thể chất hay sức khỏe tâm thần, mà còn phải góp phần thay đổi nhận thức, hành vi và kết nối chính sách với thực tiễn. Theo đó, truyền thông cần biến những nhu cầu cụ thể thành vấn đề có thể nhìn thấy, xác định mục tiêu cần giải quyết và kết nối mục tiêu đó với nguồn lực phù hợp.

dai-bieu-1.jpg Các đại biểu tham dự Hội thảo.

Từ thực tế triển khai, nhà báo Triệu Ngọc Lâm chỉ ra 5 rào cản chính. Thứ nhất là nhận thức: cần chuyển từ tư duy “tài trợ cho học sinh” sang “đầu tư cho con người và nguồn nhân lực tương lai”.

Thứ hai là cơ chế, pháp lý: cần quy định rõ ràng, minh bạch về tiếp nhận, sử dụng tài trợ, vừa kiểm soát xung đột lợi ích, vừa tạo điều kiện cho nguồn lực hợp pháp được sử dụng đúng mục tiêu.

Thứ ba là năng lực. Nhà trường và y tế cơ sở hiểu nhu cầu nhưng chưa phải nơi nào cũng có khả năng xây dựng đề xuất đủ cụ thể để kết nối nguồn lực.

Thứ tư là niềm tin, đòi hỏi sự minh bạch về nhu cầu, nguồn lực, quá trình sử dụng và kết quả.

Cuối cùng là điều phối, bởi chăm sóc sức khỏe học đường nằm ở giao điểm giữa Giáo dục, Y tế, gia đình, doanh nghiệp và cộng đồng. Thiếu cơ chế điều phối, nguồn lực dễ phân tán hoặc tìm đến nơi có khả năng kết nối tốt hơn thay vì nơi có nhu cầu cấp thiết hơn.

Để tháo gỡ, nhà báo Triệu Ngọc Lâm đề xuất thay đổi cách tiếp cận xã hội hóa theo hướng lấy nhu cầu thực tế làm điểm xuất phát; lấy dữ liệu và minh bạch làm nền tảng; xây dựng quan hệ đồng hành dài hạn giữa doanh nghiệp và nhà trường. Cùng với đó, cần nâng cao năng lực xây dựng đề xuất, trình bày dữ liệu, truyền thông và kết nối đối tác cho đội ngũ y tế trường học, cán bộ phụ trách công tác học sinh.

Với vai trò kết nối, báo chí chính thống có thể tạo diễn đàn để cơ quan quản lý, nhà trường, chuyên gia, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội nhìn thấy nhu cầu của nhau, chia sẻ giải pháp và cùng hành động. Báo chí không thay thế cơ quan quản lý hay nhà trường, nhưng có thể đưa nhu cầu thực tế ra ánh sáng, thúc đẩy đối thoại và góp phần giám sát, lan tỏa những mô hình hiệu quả.

Từ đó, 3 nhóm kiến nghị được đặt ra: xây dựng hướng dẫn thống nhất về xã hội hóa nguồn lực chăm sóc sức khỏe học đường; thí điểm hệ thống dữ liệu về nhu cầu sức khỏe học đường tại một số địa phương để điều phối nguồn lực theo nhu cầu thực tế; đồng thời đào tạo kỹ năng truyền thông, xây dựng đề xuất và vận động nguồn lực cho đội ngũ y tế trường học, cán bộ phụ trách công tác học sinh.

Theo nhà báo Triệu Ngọc Lâm, xã hội hóa chăm sóc sức khỏe học đường không nên được hiểu đơn giản là kêu gọi thêm tiền cho nhà trường. Mục tiêu cuối cùng là hình thành cơ chế trong đó Nhà nước tạo hành lang, ngành Giáo dục và Y tế xác định nhu cầu, nhà trường tổ chức thực hiện, doanh nghiệp và xã hội đồng hành, còn báo chí góp phần kết nối, giám sát và lan tỏa.

Giá trị của xã hội hóa không nằm ở số tiền huy động được, mà ở việc mỗi nguồn lực được chuyển hóa thành cơ hội chăm sóc sức khỏe tốt hơn, điều kiện học tập tốt hơn và nền tảng vững chắc hơn cho thế hệ tương lai.

Kinh nghiệm quốc tế và cơ hội cho Việt Nam xây dựng, triển khai chương trình sức khỏe học đường

toan-canh-hoi-thao.jpg Quang cảnh hội thảo "Đồng hành, kiến tạo tương lai: Vì một Việt Nam khỏe mạnh"

Phát biểu tại hội thảo, bà Jenelle Babb, Cố vấn khu vực về Giáo dục Sức khỏe và Phát triển toàn diện, Văn phòng khu vực UNESCO tại Bangkok, nhấn mạnh mô hình Trường học nâng cao sức khỏe là một sáng kiến trọng tâm nhằm thúc đẩy triển khai các chương trình sức khỏe và dinh dưỡng học đường.

Theo bà Jenelle Babb, Chính phủ các nước từ lâu đã nhận thức vai trò quyết định của ngành Giáo dục đối với những kết quả có mối liên hệ chặt chẽ giữa giáo dục và sức khỏe. Với tư cách là cơ quan đầu mối của Liên Hợp Quốc về Mục tiêu Phát triển Bền vững số 4, UNESCO đặt sức khỏe và hạnh phúc vào vị trí trung tâm trong chiến lược của tổ chức, hướng tới mục tiêu giúp mọi người học phát triển toàn diện thông qua cách tiếp cận toàn diện, qua đó cải thiện cả kết quả sức khỏe và kết quả giáo dục.

Trên phạm vi toàn cầu, 9/10 quốc gia thực hiện chính sách hoặc chương trình sức khỏe và dinh dưỡng học đường; hơn 100 quốc gia đã có chương trình tiêm chủng tại trường học; hầu như quốc gia nào cũng đưa nội dung giáo dục sức khỏe vào chương trình giảng dạy.

Bà Jenelle Babb khẳng định, các chương trình sức khỏe và dinh dưỡng học đường là một trong những khoản đầu tư thông minh nhất mà các quốc gia có thể thực hiện để đảm bảo tiềm năng con người và phát triển nguồn nhân lực. Đây là những khoản đầu tư hiệu quả về chi phí, khả thi trong mọi bối cảnh và mang lại lợi ích phát triển đáng kể.

Từ kinh nghiệm của 5 quốc gia tiên phong tham gia quá trình xây dựng các tiêu chuẩn toàn cầu về sức khỏe học đường, bà Jenelle Babb chỉ ra một số bài học quan trọng.

Trước hết, sức khỏe học đường phải được coi là một ưu tiên của giáo dục, không phải nhiệm vụ nằm ngoài ngành Giáo dục. Vì vậy, nội dung này cần được thể hiện rõ trong các kế hoạch, quy trình và hệ thống giám sát của ngành Giáo dục.

Vai trò của ngành Giáo dục và Y tế cần mang tính bổ trợ lẫn nhau. Trong đó, ngành Giáo dục chủ trì việc lồng ghép các nội dung sức khỏe vào trường học và hệ thống giáo dục; ngành Y tế hỗ trợ về tiêu chuẩn kỹ thuật, dịch vụ và chuyển tuyến chuyên môn.

Bên cạnh đó, cần kế thừa và phát triển từ những nền tảng sẵn có, củng cố các chương trình và những cải cách đang được triển khai, thay vì tạo ra một sáng kiến hoàn toàn mới.

Đối với Việt Nam, bà Jenelle Babb cho rằng một số bước quan trọng đã được khởi động. Tuy nhiên, cần tiếp tục tập trung vào một số vấn đề.

Thứ nhất, thành lập hoặc củng cố cơ chế phối hợp liên ngành với vai trò, trách nhiệm giải trình rõ ràng.

Thứ hai, xem xét và cụ thể hóa bộ tiêu chuẩn toàn cầu về Trường học nâng cao sức khỏe cho phù hợp với bối cảnh Việt Nam.

Thứ ba, đầu tư nâng cao năng lực ở tất cả các cấp, từ cán bộ lập kế hoạch giáo dục, cán bộ ngành Giáo dục cấp tỉnh, thành phố đến giáo viên trực tiếp tại nhà trường.

Thứ tư, xây dựng kế hoạch tài chính và cơ chế giám sát chương trình ngay từ đầu, trong đó có việc sử dụng bộ chỉ số Trường học nâng cao sức khỏe.

Một điểm quan trọng cần được lưu ý, theo bà Jenelle Babb, là trường học không phải nền tảng để triển khai các can thiệp y tế đơn lẻ, cũng không phải “cánh tay nối dài” của ngành Y tế nhằm cung cấp dịch vụ khám, chữa bệnh.

Các chương trình sức khỏe và dinh dưỡng học đường cần được thiết kế để bổ trợ cho hoạt động dạy và học, không cạnh tranh hay lấn át nhiệm vụ giáo dục. Đây cũng là lý do các quan hệ đối tác đa bên, liên ngành có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

“Hệ thống giáo dục không thể tự mình thực hiện thành công việc này”, bà Jenelle Babb nhấn mạnh, đồng thời cho rằng cần xây dựng những cơ chế đối tác mạnh mẽ, hòa nhập, đa dạng, có sự tham gia tích cực và được xây dựng trên nền tảng tin cậy lẫn nhau.

Dinh dưỡng học đường - nền tảng cho tầm vóc thế hệ tương lai

ong-quyen-th.jpg Ông Phạm Thế Quyền - Giám đốc Nghiên cứu và Phát triển, Tập đoàn TH.

Ông Phạm Thế Quyền - Giám đốc Nghiên cứu và Phát triển, Tập đoàn TH, nhấn mạnh yêu cầu coi dinh dưỡng học đường là một phần của chiến lược phát triển con người.

Ông Phạm Thế Quyền cho rằng, đầu tư cho trẻ em, đặc biệt trong những năm tháng đầu đời, là một trong những khoản đầu tư bền vững đối với tương lai đất nước. Dinh dưỡng, vận động và môi trường học đường cần được nhìn nhận như những cấu phần gắn bó trong chiến lược nâng cao thể lực, trí lực và tầm vóc thế hệ trẻ.

Theo tham luận, khoa học cho thấy giai đoạn từ 2 - 12 tuổi có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình phát triển thể chất và trí não của trẻ. Vì vậy, việc bảo đảm dinh dưỡng hợp lý trong nhà trường không chỉ nhằm cải thiện sức khỏe trước mắt mà còn góp phần tạo nền tảng cho sự phát triển lâu dài.

Từ năm 2013, Tập đoàn TH đã đồng hành triển khai các chương trình về dinh dưỡng học đường. Đáng chú ý là “Mô hình điểm Bữa ăn học đường bảo đảm dinh dưỡng hợp lý kết hợp tăng cường hoạt động thể lực cho trẻ em, học sinh, sinh viên Việt Nam”, được thí điểm trong năm học 2020 - 2021 tại 10 tỉnh, thành phố đại diện cho 5 vùng sinh thái lớn.

Mô hình xây dựng bữa ăn dựa trên thực phẩm tự nhiên, phù hợp lợi thế nông nghiệp từng vùng; đưa sữa tươi vào khẩu phần theo hướng khoa học, với một ly sữa tươi không bổ sung vi chất mỗi ngày học trong tuần và bộ 400 thực đơn. Học sinh đồng thời được khuyến khích vận động tối thiểu 60 phút mỗi ngày.

Sau một năm triển khai, mô hình được đánh giá có kết quả tích cực trong cải thiện thể chất, giảm suy dinh dưỡng và thừa cân, đồng thời hỗ trợ khả năng tập trung, tinh thần kỷ luật và sự tự tin của trẻ. Theo tham luận, đây là cơ sở thực tiễn và khoa học để tiếp tục hoàn thiện chính sách dinh dưỡng học đường.

Đáng chú ý, Quyết định 973/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình Sức khỏe học đường giai đoạn 2026 - 2035 đã đặt nhiệm vụ nhân rộng mô hình bữa ăn học đường bảo đảm dinh dưỡng hợp lý kết hợp với hoạt động vận động thể lực, trong đó xây dựng thực đơn đáp ứng các yêu cầu của Chương trình giáo dục mầm non.

Bên cạnh dinh dưỡng, Tập đoàn TH cho biết đã tham gia nhiều hoạt động liên quan đến sức khỏe học đường như chương trình S-RACE dành cho học sinh, sinh viên, các hoạt động truyền thông giáo dục, hội thảo khoa học, dự án cải thiện môi trường học đường và xây dựng 1.000 nhà vệ sinh trường học.

Từ thực tiễn triển khai, tham luận đề xuất sáu nhóm giải pháp. Trong đó, cần thiết lập định biên nhân sự dinh dưỡng tại trường học, nhất là ở bậc mầm non và tiểu học; bảo đảm cơ sở vật chất cho bữa ăn, hoạt động thể lực và vệ sinh trường học; đồng thời có cơ chế tài chính phù hợp, ưu tiên trẻ mầm non và tiểu học.

Một đề xuất khác là tổ chức đấu thầu công khai, minh bạch đối với sữa tươi học đường trên cơ sở tiêu chí kỹ thuật thống nhất về an toàn, chất lượng và truy xuất nguồn gốc. Bữa ăn bán trú cần được tổ chức phù hợp điều kiện từng địa phương, dựa trên lợi thế nông nghiệp và đặc điểm sinh hoạt.

Tham luận cũng nhấn mạnh vai trò của truyền thông trong tạo đồng thuận xã hội, đồng thời đề xuất nghiên cứu xây dựng Luật Dinh dưỡng học đường nhằm thể chế hóa các chủ trương, chính sách về nâng cao sức khỏe, thể chất và tầm vóc thế hệ trẻ.

Theo ông Phạm Thế Quyền, Quyết định 973/QĐ-TTg mở ra giai đoạn mới cho công tác sức khỏe học đường. Việc kết nối kinh nghiệm từ các chương trình thí điểm, nghiên cứu khoa học và thực tiễn triển khai sẽ là cơ sở để các giải pháp được chia sẻ, hoàn thiện và nhân rộng.

Thông điệp được đưa ra từ tham luận là dinh dưỡng học đường cần được nhìn nhận không chỉ như một vấn đề của y tế hay giáo dục, mà là một khoản đầu tư cho nguồn nhân lực và tương lai quốc gia.

Phối hợp đa ngành, huy động nguồn lực triển khai Chương trình sức khỏe học đường

dai-dien-so-bac-ninh.jpg Ông Nguyễn Vinh Thanh - Phó Giám đốc Sở GD&ĐT tỉnh Bắc Ninh.

Ông Nguyễn Vinh Thanh - Phó Giám đốc Sở GD&ĐT tỉnh Bắc Ninh cho biết: Nhận thức rõ chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe học sinh là nhiệm vụ liên ngành, liên lĩnh vực, đòi hỏi sự tham gia của nhiều chủ thể, tỉnh Bắc Ninh luôn xác định xây dựng cơ chế phối hợp đồng bộ và huy động hiệu quả các nguồn lực xã hội là giải pháp then chốt để triển khai Chương trình Sức khỏe học đường.

Trên cơ sở đó, tỉnh bắc Ninh đã ban hành nhiều kế hoạch, quy chế phối hợp và cơ chế hỗ trợ nhằm cụ thể hóa các chủ trương của Trung ương. Từ hệ thống các cơ chế, chính sách và quy chế phối hợp này, Bắc Ninh từng bước hình thành một cơ chế phối hợp đa ngành, đa chủ thể.

Trong đó, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo và điều phối; các sở, ngành phối hợp thực hiện; chính quyền địa phương tổ chức triển khai; cơ sở giáo dục là trung tâm thực hiện; gia đình là chủ thể đồng hành; doanh nghiệp, tổ chức xã hội và cơ quan báo chí là lực lượng hỗ trợ, lan tỏa và bổ sung nguồn lực.

Đây cũng chính là nền tảng để tỉnh huy động hiệu quả nguồn lực về thể chế, chuyên môn, tài chính, nhân lực và truyền thông trong triển khai Chương trình Sức khỏe học đường.

Kết quả, cơ chế phối hợp đa ngành, đa chủ thể trong chăm sóc sức khỏe học sinh được xây dựng từ cấp tỉnh đến cơ sở, trong đó UBND tỉnh giữ vai trò điều phối; ngành Giáo dục là đầu mối tổ chức thực hiện; ngành Y tế, Bảo hiểm xã hội, các sở, ngành, chính quyền địa phương, gia đình, doanh nghiệp, tổ chức xã hội và cơ quan báo chí cùng tham gia theo chức năng, nhiệm vụ.

Nhiều chính sách huy động nguồn lực mang tính đặc thù của địa phương đã được triển khai hiệu quả, tạo điều kiện để mọi học sinh đều được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe.

Chất lượng chăm sóc sức khỏe học sinh từng bước được nâng cao theo hướng toàn diện, lấy phòng bệnh và chăm sóc sức khỏe ban đầu làm trọng tâm.

Cơ chế phối hợp đã góp phần huy động hiệu quả nguồn lực xã hội và tạo sự đồng thuận của cộng đồng trong chăm sóc sức khỏe học sinh.

Mặc dù đã đạt được nhiều kết quả tích cực, song trước yêu cầu đổi mới giáo dục và chăm sóc sức khỏe học sinh trong giai đoạn mới, thực tiễn tại Bắc Ninh vẫn còn một số vấn đề cần tiếp tục được quan tâm.

Cụ thể, theo ông Nguyễn Vinh Thanh, công tác truyền thông về sức khỏe học đường cần được đầu tư mạnh mẽ hơn để đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới. bảo đảm dinh dưỡng học đường, đặc biệt đối với học sinh học bán trú, vẫn đang đặt ra yêu cầu cần có chính sách hỗ trợ bền vững.

Bên cạnh đó, mặc dù Bắc Ninh đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ thiết thực, trong đó có chính sách hỗ trợ 50% mức đóng bảo hiểm y tế đối với học sinh thuộc diện tự tham gia, song yêu cầu chăm sóc sức khỏe học sinh theo hướng toàn diện và công bằng đặt ra đòi hỏi phải tiếp tục mở rộng nguồn lực an sinh.

Từ thực tiễn triển khai tại địa phương, Bắc Ninh nhận thấy để Chương trình Sức khỏe học đường giai đoạn 2026 - 2035 đạt hiệu quả cao và phát triển bền vững, bên cạnh sự nỗ lực của các địa phương, rất cần sự quan tâm chỉ đạo của Trung ương cùng sự đồng hành của các tổ chức xã hội, doanh nghiệp và cơ quan báo chí trong việc huy động các nguồn lực hỗ trợ.

Trên tinh thần đó, tỉnh Bắc Ninh đề xuất 3 nhiệm vụ ưu tiên cần tập trung huy động nguồn lực trong thời gian tới: huy động nguồn lực để tăng cường truyền thông và xây dựng, nhân rộng mô hình "Trường học an toàn, nâng cao sức khỏe, y tế trường học thân thiện"; huy động nguồn lực để từng bước xây dựng chính sách hỗ trợ bữa ăn bán trú cho học sinh; huy động nguồn lực hỗ trợ đóng bảo hiểm y tế cho học sinh.

phien-toa-dam.jpg Phiên tọa đàm với chủ đề: “Truyền thông sức khỏe học đường và huy động nguồn lực xã hội: Từ nhận thức đến hành động”

Tại hội thảo, tọa đàm “Truyền thông sức khỏe học đường và huy động nguồn lực xã hội: Từ nhận thức đến hành động” có sự tham gia của ông Nguyễn Văn Dĩnh, Phó Giám đốc Sở GD&ĐT Thanh Hóa; bà Lê Anh Lan, Chuyên gia Giáo dục, Tổ chức Nhi đồng Liên hợp quốc tại Việt Nam (UNICEF); PGS.TS Bùi Thị Nhung, Phó Chủ tịch Hội Tiết chế Dinh dưỡng, nguyên Chủ nhiệm Khoa Dinh dưỡng học đường và ngành nghề, Viện Dinh dưỡng Quốc gia; bà Nguyễn Quỳnh Vân, Viện phó Viện Dinh dưỡng TH.

Các diễn giả tập trung nhận diện những thách thức, khoảng trống trong công tác chăm sóc sức khỏe học đường; trao đổi về cách chuyển hóa mục tiêu, chính sách quốc gia thành hoạt động thường xuyên, thiết thực tại từng nhà trường; đồng thời phân tích vai trò của dữ liệu, công cụ quản lý trong theo dõi, đánh giá và hỗ trợ ra quyết định.

Một nội dung được nhấn mạnh là yêu cầu xây dựng cơ chế phối hợp rõ ràng, huy động nguồn lực xã hội đúng nhu cầu, đúng khâu và theo hướng bền vững. Qua các trao đổi, các đại biểu thống nhất quan điểm lấy trẻ em làm trung tâm, đưa chính sách vào thực tiễn nhà trường, sử dụng dữ liệu để cải thiện chất lượng và bảo đảm sự tham gia của các nguồn lực xã hội trên cơ sở chuyên môn, minh bạch, công bằng. Việc cần thiết ban hành Luật Dinh dưỡng học đường cũng được chuyên gia nhắc đến.

Hội thảo là diễn đàn truyền thông và kết nối chính sách quan trọng nhằm hiện thực hóa Quyết định số 973/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình Sức khỏe học đường giai đoạn 2026–2035 và Quyết định số 1991/QĐ-BGDĐT của Bộ GD&ĐT ban hành Kế hoạch thực hiện Chương trình.

Qua đó, thảo hướng tới tháo gỡ các rào cản, đề xuất giải pháp triển khai hiệu quả, thiết lập cơ chế phối hợp đa ngành và tạo động lực mạnh mẽ để vận động nguồn lực xã hội chăm sóc toàn diện sức khỏe thể chất, tinh thần cho học sinh, sinh viên Việt Nam.