xuân

Đào tạo giáo viên theo mô hình 'trục 3 tầng'

GD&TĐ - Chính sách ưu đãi dành cho sinh viên sư phạm đang phát huy hiệu quả rõ rệt.

Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo và chuyển đổi số tác động sâu rộng đến giáo dục, GS.TS Huỳnh Văn Sơn – Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh cho rằng, việc chủ động xây dựng chiến lược đào tạo giáo viên theo hướng hiện đại, nhân văn và làm chủ công nghệ là “trục 3 tầng” quan trọng.

Chính sách đúng – động lực thật

- Ông nhìn nhận thế nào về tác động của các chính sách dành cho giáo viên và sinh viên sư phạm trong việc thu hút người học vào ngành sư phạm?

- Có thể nói, những năm gần đây, chính sách dành cho sinh viên sư phạm có những thay đổi đáng kể, theo hướng thiết thực và tạo động lực rõ ràng hơn cho người học. Nổi bật là Nghị định số 116/2020/NĐ-CP của Chính phủ “Quy định về chính sách hỗ trợ tiền đóng học phí, chi phí sinh hoạt đối với sinh viên sư phạm” (Nghị định 116). Đây là chính sách có ý nghĩa lớn. Nếu sinh viên không lựa chọn hưởng Nghị định 116 thì vẫn có cơ chế cấp bù học phí. Như vậy, dù theo phương án nào, người học sư phạm đều nhận được sự hỗ trợ từ Nhà nước.

Ở góc độ của cơ sở đào tạo giáo viên, chúng tôi nhận thấy đây là động lực lớn để thu hút người học sư phạm. Khi áp lực tài chính được giảm bớt, sinh viên có điều kiện tập trung hơn vào chuyên môn, rèn luyện nghề nghiệp và phát triển bản thân. Tâm thế của các em cũng thay đổi tích cực hơn khi lựa chọn ngành.

Bên cạnh chính sách tài chính, ngày nay nhiều cơ sở đào tạo, trong đó có Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh đã kết nối chặt chẽ với các đơn vị tuyển dụng. Sinh viên tốt nghiệp có hồ sơ học tập rõ ràng, minh bạch, thể hiện quá trình rèn luyện nghiêm túc. Ở một số địa phương khu vực phía Nam, theo ghi nhận của chúng tôi, sinh viên sư phạm khá hài lòng trong quá trình học tập. Khi ra trường, các em được phân công công việc cụ thể, có mô tả rõ ràng.

Tôi cho rằng, xét ở bình diện chung, đây là những chính sách có lợi cho sinh viên sư phạm, đặc biệt giáo viên trẻ mới ra trường. Chính sách đúng sẽ tạo niềm tin. Niềm tin sẽ dẫn đến quyết định chọn nghề.

dao-tao-giao-vien-theo-mo-hinh-truc-3-tang-2.jpg GS.TS Huỳnh Văn Sơn - Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: HANU

Niềm tin trở lại

- Riêng tại Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh, số lượng thí sinh đăng ký vào các ngành sư phạm trong 5 năm qua thay đổi như thế nào, thưa ông?

- Chúng tôi ghi nhận sự thay đổi rất rõ. Nếu nhìn theo chu trình 5 năm, số lượng đăng ký vào các ngành sư phạm đã tăng gấp ba lần. Cụ thể, năm 2025 so với năm 2020, tổng số sinh viên đăng ký vào các ngành sư phạm tăng gấp ba. Đây là con số có ý nghĩa đặc biệt, bởi nó phản ánh sự chuyển biến trong nhận thức xã hội và trong lựa chọn nghề nghiệp của thế hệ trẻ.

Lấy một ví dụ cụ thể: Ngành Sư phạm Mầm non. Trước đây, mỗi năm chúng tôi tuyển khoảng 250 - 300 sinh viên. Số lượng đăng ký thường dao động 1.200 - 1.500. Nhưng trong năm vừa qua, số đăng ký đã lên đến gần 4.000. Sự gia tăng này giúp nhà trường có điều kiện tuyển chọn kỹ hơn, nâng cao chất lượng đầu vào.

Một điểm đáng chú ý khác là tỷ lệ sinh viên sư phạm bỏ học tại trường rất thấp. Điều đó cho thấy các em đã cân nhắc kỹ khi lựa chọn. Khi chính sách rõ ràng, định hướng nghề nghiệp cụ thể, người học sẽ chủ động hơn trong quyết định của mình.

Tôi cho rằng, đây là tín hiệu tích cực cho ngành đào tạo giáo viên. Niềm tin đang quay trở lại. Và khi niềm tin được củng cố bằng chính sách ổn định, đầu tư bài bản, chất lượng đào tạo sẽ tiếp tục được nâng cao.

- Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI) phát triển nhanh chóng, nhà trường đã chuẩn bị ra sao để đào tạo giáo viên thích ứng với chuyển đổi số?

- Trí tuệ nhân tạo thay đổi từng ngày, giờ. Vì vậy, sự thích ứng không thể bị động mà phải chủ động. Tại Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh, chúng tôi đã xây dựng các học phần liên quan đến ứng dụng AI trong nghề nghiệp và dạy học cách đây 7 năm. Nghĩa là chúng tôi có sự chuẩn bị sớm.

Trong hai năm đầu, sinh viên chưa nhận thấy tầm quan trọng của các học phần này. Giảng viên cũng chưa thực sự tích cực tư vấn để các em lựa chọn. Nhưng khoảng 5 năm gần đây, gần như sinh viên rất yêu thích học phần này. Các em nhận ra nghề giáo không thể tách rời bối cảnh chuyển đổi số và sự phát triển của công nghệ thông tin, trong đó có AI.

Tuy nhiên, tôi muốn nhấn mạnh rằng, việc bổ sung một học phần không quan trọng bằng quan điểm đào tạo tổng thể. Chúng tôi chuẩn bị đồng bộ trên nhiều phương diện.

Thứ nhất, thường xuyên tập huấn cho đội ngũ giảng viên về năng lực số.

Thứ hai, đầu tư hệ thống đào tạo trực tuyến từ năm 2019. Nhờ vậy, trong mùa dịch, chúng tôi không lúng túng khi chuyển đổi phương thức đào tạo.

Thứ ba, có sự đồng hành của Khoa Công nghệ Thông tin, Trung tâm Tin học và Phòng Công nghệ Thông tin để tư vấn và hỗ trợ triển khai.

Chúng tôi chủ động chuẩn bị nguồn lực và cơ sở vật chất. Dù vậy, vẫn còn những trăn trở như việc cần tiếp tục đầu tư phòng học thông minh, phòng thi trên máy tính, nhất là khi dự kiến thi tốt nghiệp THPT trên máy vào năm 2027.

dao-tao-giao-vien-theo-mo-hinh-truc-3-tang-3.jpg Sinh viên Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh. Ảnh: HCMUE

Nhân văn là giá trị cốt lõi trong đào tạo số

- Trong đào tạo giáo viên thời công nghệ, yếu tố nhân văn được đặt ra như thế nào, thưa ông?

- Quan trọng nhất không phải là cơ sở vật chất mà là quan điểm đào tạo số phải gắn với đạo đức và nhân văn. Giá trị cốt lõi của Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh là nhân văn. Vì vậy, trong từng học phần có ứng dụng công nghệ thông tin, trong từng hoạt động có ứng dụng AI chúng tôi đều chuẩn bị nội dung về đạo đức số.

Chúng tôi không muốn công nghệ làm chủ con người. Giáo viên phải làm chủ công nghệ. Muốn vậy, nền tảng phải là đạo đức nghề nghiệp, trách nhiệm xã hội và ý thức nhân văn.

Một giáo viên thiếu nền tảng này sẽ dễ bị dẫn dắt bởi công nghệ. Nhưng nếu có bản lĩnh nghề nghiệp và đạo đức vững vàng, giáo viên sẽ biết cách sử dụng AI như một công cụ hỗ trợ, không phải sự thay thế.

- Theo ông, năng lực cốt lõi của giáo viên trong bối cảnh AI phát triển là gì?

- Chúng tôi xây dựng mô hình “trục 3 tầng” trong đào tạo giáo viên:

Tầng thứ nhất là năng lực sư phạm cơ bản.

Tầng thứ hai là năng lực sư phạm hiện đại.

Tầng thứ ba là năng lực sư phạm số và sư phạm công nghệ.

Nếu bảo đảm được cả ba tầng này, giáo viên có thể dạy học hiệu quả trong lớp học truyền thống, đồng thời ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo một cách tích cực. Giả định trong môi trường số hoàn toàn, giáo viên vẫn đủ năng lực để làm nghề một cách chân chính, không bị lệ thuộc.

Ở tầng hai và tầng ba, các cơ sở đào tạo giáo viên cần điều chỉnh mạnh mẽ nếu muốn tiếp cận chuẩn mực hiện đại của thế giới. Tuy nhiên, dù ở tầng nào, phẩm chất và đạo đức nghề nghiệp vẫn là nền tảng.

- Theo ông, có nên tái cấu trúc chương trình đào tạo giáo viên theo hướng phát triển năng lực nghề nghiệp thích ứng với thời đại mới?

- Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ, đặc biệt là AI đang tạo ra những thay đổi mang tính bước ngoặt như: Cá nhân hóa học tập, phân tích dữ liệu người học, thiết kế học liệu thông minh, hỗ trợ đánh giá, mô phỏng lớp học và tối ưu hóa quy trình dạy học. Tuy nhiên, khoảng cách lớn về năng lực số giữa các giáo viên, sự thiếu hụt nhân lực ở một số học phần, yêu cầu cấp thiết phải tái cấu trúc chương trình đào tạo theo hướng phát triển năng lực nghề nghiệp thích ứng với thời đại mới.

Từ khảo sát về những hạn chế của chương trình đào tạo giáo viên hiện nay, các trường sư phạm cần chủ động đổi mới chương trình, phương thức đào tạo và mô hình bồi dưỡng nghề nghiệp. Trong đó, ba trụ cột chính của định hướng đổi mới là: Tái cấu trúc chương trình đào tạo theo tiếp cận năng lực; Tích hợp công nghệ và AI một cách khoa học, hiệu quả; Phát triển người thầy thời đại số trên nền tảng nhân văn.

Nhiều trường đại học sư phạm đã đẩy mạnh chuyển đổi số và tích hợp AI vào hầu hết học phần trong chương trình đào tạo giáo viên. Điều đó cho thấy tín hiệu tích cực từ năng lực số cơ bản, năng lực sư phạm số đến năng lực ứng dụng AI đều được triển khai bài bản. Đây là nền tảng quan trọng để đổi mới mô hình đào tạo giáo viên và phương pháp giáo dục trong kỷ nguyên số.

Việc triển khai Chương trình GDPT 2018 mở ra giai đoạn phát triển mới cho giáo dục Việt Nam, chuyển trọng tâm từ dạy học theo nội dung sang phát triển năng lực học sinh. Điều này kéo theo yêu cầu tái cấu trúc mạnh mẽ đội ngũ giáo viên về năng lực chuyên môn, năng lực sư phạm và năng lực số.

Khảo sát trên 312 sinh viên của Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh cho thấy, đa số đã tiếp cận môi trường chuyển đổi số một cách hệ thống. Hơn 90% sinh viên hoàn thành ít nhất ba học phần liên quan đến công nghệ thông tin hoặc chuyển đổi số và hơn 70% học ít nhất một học phần tích hợp AI vào dạy học đúng tiến độ.

Cùng đó, đào tạo giáo viên còn đối mặt thách thức về thiếu giáo viên ở một số môn như: Khoa học tự nhiên, Tin học, Tiếng Anh…, chênh lệch vùng miền trong tiếp cận hạ tầng số và năng lực triển khai chuyển đổi số không đồng đều giữa các cơ sở giáo dục, bao gồm quan điểm về ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số. Những hạn chế này đòi hỏi các trường sư phạm phải chủ động đổi mới chương trình, phương thức đào tạo và mô hình bồi dưỡng nghề nghiệp theo quy trình, hướng đến tính bền vững.

- Trân trọng cảm ơn ông!

“Chúng tôi tin rằng, khi chính sách đúng tạo động lực, nhà trường chủ động chuẩn bị sớm và đào tạo được đặt trên nền tảng nhân văn, ngành sư phạm sẽ tiếp tục phát triển bền vững trong kỷ nguyên số”. - GS.TS Huỳnh Văn Sơn