xuân

Quy định học sinh hoàn thành đủ 9 năm giáo dục bắt buộc: Cần thiết và phù hợp

GD&TĐ - Nhiều trường học, địa phương ủng hộ và cho rằng quy định học sinh phải hoàn thành đủ 9 năm giáo dục bắt buộc từ tiểu học đến hết THCS là cần thiết, nhằm bảo đảm nền tảng học vấn tối thiểu và hạn chế nguy cơ bỏ học sớm.

Hạn chế nguy cơ bỏ học sớm

Tại Trường Phổ thông DTBT THCS Nậm Cắn (xã Nậm Cắn, Nghệ An), sau kỳ nghỉ Tết còn hơn 10 học sinh chưa quay trở lại trường. Trong đó có ít nhất hai học sinh lớp 8, lớp 9 đứng trước nguy cơ bỏ học do tảo hôn. Ông Đinh Tiến Hoàng – Hiệu trưởng nhà trường cho biết: Cả hai học sinh là nữ, thuộc dân tộc Mông. Chúng tôi đã liên lạc với gia đình và đang vận động để các em trở lại trường, không bỏ học giữa chừng.

Qua nhiều năm công tác ở huyện vùng cao, Hiệu trưởng Trường Phổ thông DTBT THCS Nậm Cắn cho biết, những trường hợp có nguy cơ bỏ học sớm không phải vì các em hạn chế năng lực học tập. Thậm chí có em học khá, nhưng do ảnh hưởng bởi tập tục bắt vợ vào dịp Tết nên một số học sinh sẽ lấy vợ, chồng sớm. Việc tuyên truyền, vận động học sinh đến trường không chỉ vì tương lai học tập, mà còn vì sức khỏe, cuộc sống thực tế của chính các em.

Từ thực tế trên, ông Hoàng ủng hộ dự thảo học sinh phải hoàn thành đủ 9 năm giáo dục bắt buộc. Đây là quá trình cần thiết để học sinh được trang bị nền tảng kiến thức, kỹ năng và trưởng thành nhất định về tâm lý, nhận thức để tự quyết định tiếp tương lai của mình. Sau đó, các em có thể tiếp tục thi lên THPT, hoặc học nghề, kiếm việc làm

Tương tự, tại Trường THCS Xá Lượng (Tương Dương, Nghệ An) câu chuyện giáo viên phải đến từng nhà để vận động học sinh trở lại lớp đã trở nên quen thuộc sau mỗi dịp nghỉ Tết. Những trường hợp có nguy cơ bỏ học chủ yếu ở bản Na Bè và Hợp Thành – hai bản xa nhất của xã.

Quãng đường gần 20 km, nhiều đoạn bị sạt lở do mưa bão năm 2025 vẫn chưa kịp khắc phục nên còn tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn, nhưng các thầy cô không thể trì hoãn. Học kỳ II đã bắt đầu hơn 1 tháng và các em đang chuẩn bị bước vào thời điểm thi giữa kỳ, lịch học đã kín tuần.

Bà Nguyễn Thị Kim Dung – Hiệu trưởng nhà trường chia sẻ, ban giám hiệu nhà trường phân công giáo viên chủ nhiệm liên lạc, nắm bắt từng hoàn cảnh học sinh, chia sẻ trò chuyện để các em thấy được tầm quan trọng của việc học.

Một số trường hợp khó hơn, nhà trường phải kết nối với người thân, nhờ chính quyền địa phương cùng vào cuộc. Tuy nhiên, có những trường hợp cá biệt như em Cụt Văn K., dù mới học lớp 6 nhưng nhất quyết không chịu đi học, hay em Cụt Văn C. được bố mẹ, thầy cô khuyên răn rất nhiều nhưng chưa thể thuyết phục em đến trường.

Theo bà Dung, nguyên nhân học sinh nghỉ học xuất phát từ hoàn cảnh gia đình cũng như nhận thức của chính các em. Hơn nửa học sinh của trường có bố mẹ đi làm ăn xa, các em ở với ông bà nên việc theo sát học tập gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, bà Dung cho rằng, cần thiết duy trì chương trình giáo dục bắt buộc 9 năm.

“Đối với học sinh vùng cao, nhà trường không chỉ là nơi học tập mà còn như ngôi nhà thứ hai. Trong khi nhiều phụ huynh chưa có điều kiện quan tâm đầy đủ đến việc học của con, thầy cô vừa dạy kiến thức, vừa rèn luyện kỹ năng và định hướng tương lai cho các em”, bà Dung chia sẻ.

can-thiet-va-phu-hop2.jpg Giờ học tại Trường Phổ thông DTBT THCS Nậm Cắn, Nghệ An. Ảnh: Hồ Lài

Tạo nền tảng học vấn, kỹ năng tối thiểu

Từ nhiều tháng nay, cô Trương Thị Huyền – giáo viên Trường THCS Nghi Phú (Nghệ An) đón một học sinh trong lớp chủ nhiệm về nhà nuôi dưỡng như con. Mỗi ngày cô đưa em đến trường rồi lại cùng về nhà sau giờ học. Học sinh này có hoàn cảnh khó khăn, bố mẹ ly hôn, mẹ đi làm ăn xa nên em phải tự xoay xở việc sinh hoạt và học tập, từng có ý định nghỉ học để đi làm. Thương học trò, cô Huyền quyết định đón em về chăm sóc, động viên em cố gắng học hết lớp 9.

Là cơ sở giáo dục đóng tại vùng đô thị, nhưng hàng năm, tỷ lệ phân luồng của Trường THCS Nghi Phú (phường Vinh Phú, Nghệ An) chiếm khoảng 20-30%. Theo bà Tăng Thị Thu Hiền – Hiệu trưởng nhà trường, điều đáng lưu ý là tỷ lệ này nếu để học sinh và phụ huynh tự phân luồng có thể sẽ còn cao hơn nữa.

Nghi Phú là vùng đặc thù, nhiều học sinh tham gia lao động trong gia đình, phụ giúp bố mẹ làm nghề từ khá sớm. Không ít trường hợp có dự định du học nghề khi chưa hết lớp 9. Trong khi độ tuổi THCS, các em chưa đủ nền tảng kiến thức cơ bản, sự phát triển về tâm sinh lý cũng chưa đủ độ chín, trưởng thành.

Theo bà Hiền, quy định giáo dục bắt buộc 9 năm rất cần thiết để nhà trường cùng phối hợp với gia đình, địa phương trong giáo dục, định hướng nghề nghiệp tương lai cho học sinh.

Với địa bàn thuộc thành phố Vinh cũ, áp lực thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT cao, nhiều học sinh của trường được phân luồng để đăng ký vào trung tâm GDNN-GDTX hoặc trường trung cấp, cao đẳng nghề. Tại đây, các em vừa trang bị thêm kiến thức văn hóa, vừa được học nghề để sau đi làm theo nhu cầu và năng lực, sở trường bản thân.

Từ thực tế quản lý trường học, nhiều ý kiến cho rằng quy định học sinh phải hoàn thành đủ 9 năm giáo dục bắt buộc là cần thiết. Ông Chu Văn Tuấn – Hiệu trưởng Trường THCS Yên Lợi (Tân Minh, Ninh Bình) cho rằng cấp THCS là giai đoạn học sinh hình thành nền tảng kiến thức và kỹ năng quan trọng.

Ở giai đoạn này, học sinh bắt đầu tiếp cận hệ thống kiến thức tương đối đầy đủ về khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, đồng thời rèn luyện khả năng tự học và tư duy độc lập. Nếu nghỉ học quá sớm, các em sẽ thiếu hụt nhiều kiến thức cơ bản, gây khó khăn khi học nghề hoặc tham gia lao động sau này.

Theo ông Tuấn, quy định giáo dục bắt buộc 9 năm cũng giúp các địa phương nâng cao trách nhiệm trong việc duy trì sĩ số. Khi trách nhiệm được xác định rõ, sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và chính quyền cơ sở sẽ chặt chẽ hơn.

Ở cấp tiểu học – nền tảng của quá trình học tập, bà Nguyễn Thị Mỹ - Hiệu trưởng Trường Tiểu học Ninh Giang (Ninh Bình) cho rằng hiệu quả của chính sách giáo dục bắt buộc 9 năm phụ thuộc nhiều vào nền tảng được hình thành từ những năm đầu đến trường.

Theo bà Mỹ, tiểu học là giai đoạn học sinh hình thành kỹ năng đọc, viết, tính toán và xây dựng thói quen học tập. Khi được trang bị nền tảng tốt, học sinh sẽ tự tin hơn khi lên THCS và ít có nguy cơ bỏ học.

can-thiet-va-phu-hop-2.jpg Bà Nguyễn Thị Kim Dung – Hiệu trưởng Trường THCS Xá Lượng đến thăm học sinh ở khu bán trú. Ảnh: Hồ Lài

Để chính sách đi vào thực tế

Theo ông Đinh Quang Tùng – Hiệu trưởng Trường THCS Nam Phong (Ninh Bình) chủ trương giáo dục bắt buộc 9 năm phù hợp với định hướng nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông. Tuy nhiên, bên cạnh quy định bắt buộc cần tăng cường các biện pháp hỗ trợ học sinh ngay trong trường học.

“Nhiều trường đã tổ chức phụ đạo cho học sinh yếu, đồng thời chú trọng tư vấn tâm lý học đường. Khi học sinh cảm thấy mình được quan tâm và có cơ hội cải thiện kết quả học tập, các em sẽ có động lực tiếp tục đến lớp”, ông Tùng chia sẻ.

Trong khi đó, ông Nguyễn Quốc Tuấn - Giám đốc Trung tâm GDTX Cà Mau cho rằng, dự thảo giáo dục bắt buộc 9 năm của Bộ GD&ĐT là bước đi đúng hướng, phù hợp với xu thế phát triển của nhiều quốc gia và đáp ứng nhu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong bối cảnh mới.

Theo ông Tuấn, học sinh khi hoàn thành lớp 9 có thể tiếp tục học THPT, học nghề hoặc tham gia thị trường lao động với nền tảng kiến thức cơ bản. Tuy nhiên, để chính sách phát huy hiệu quả cần có cơ chế đầu tư, hỗ trợ xã hội và giám sát đối với các địa phương có tỷ lệ bỏ học cao.

Ở góc độ phụ huynh, ông Phạm Tiến Nguyên (Phước Long, Cà Mau) cho rằng dù học phí có thể được miễn giảm, nhiều gia đình vẫn gặp khó khăn với các chi phí khác như sách vở, sinh hoạt hay đi lại. Vì vậy, Nhà nước cần có các chính sách hỗ trợ trực tiếp cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn như học bổng, hỗ trợ ăn ở, hoặc tổ chức bán trú, nội trú cho học sinh vùng sâu, xa.

Ông Phạm Văn Lê - Trưởng phòng Giáo dục trung học, Sở GD&ĐT Cà Mau cho rằng, quy định học sinh phải hoàn thành đủ 9 năm giáo dục bắt buộc góp phần tăng tính ràng buộc pháp lý, bảo đảm quyền và nghĩa vụ học tập của công dân.

Đồng thời đề cao trách nhiệm của gia đình, nhà trường và chính quyền địa phương trong việc bảo đảm trẻ em hoàn thành chương trình học, hạn chế tình trạng học sinh bỏ học giữa chừng. Tuy nhiên, trước khi đưa vào thực hiện cần có sự chuẩn bị kỹ lưỡng, đầu tư đồng bộ về mạng lưới trường lớp, cơ sở vật chất, trang thiết bị và bổ sung đủ đội ngũ giáo viên.

“Hiện tại, việc đầu tư cho giáo dục, chất lượng giáo dục ở các vùng miền, địa phương trên cả nước chưa đồng đều, có sự chênh lệch giữa các đô thị lớn với khu vực nông thôn, đặc biệt vùng khó khăn. Tại tỉnh Cà Mau, nhiều năm qua còn thiếu giáo viên, nhất là ở khu vực vùng sâu, xa; cơ sở vật chất, trường lớp, trang thiết bị học tập chưa có sự đầu tư đồng bộ do hạn chế về nguồn lực.

Nếu giáo dục trở thành nghĩa vụ bắt buộc trong 9 năm, Nhà nước cần cân đối nguồn lực đầu tư phù hợp, đồng đều, đồng thời có cơ chế kiểm soát và hỗ trợ chặt chẽ hơn. Điều này bao gồm việc theo dõi quá trình học tập của học sinh, phát hiện sớm nguy cơ bỏ học, có chính sách hỗ trợ phù hợp đối với học sinh nghèo, khó khăn”, ông Lê nêu ý kiến.