xuân

Chuyển từ 'tiền kiểm' sang 'hậu kiểm', yêu cầu chuẩn hóa tiêu chuẩn và dữ liệu số trong quản lý an ninh, PCCC

(LSVN) - Ngày 26/10, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI, Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Cần Thơ và tỉnh Sơn La (Tổ 8) thảo luận tại tổ về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ; Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ và dự án Luật Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia. Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương Nguyễn Duy Ngọc (ĐBQH TP. Cần Thơ)

Tại buổi thảo luận, các đại biểu đánh giá cao tinh thần chuẩn bị công phu, kỹ lưỡng của các cơ quan chủ trì soạn thảo và cơ quan thẩm tra. Nhấn mạnh tính chất đặc thù và tầm ảnh hưởng trực tiếp của hai dự án luật gồm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ và Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương Nguyễn Duy Ngọc chỉ rõ hai luật này đều tác động trực tiếp đến đời sống xã hội và đều được quan tâm ở các thời kỳ.

Toàn cảnh phiên thảo luận tại Tổ 8. Nguồn: Quochoi.vn.

Toàn cảnh phiên thảo luận tại Tổ 8. Nguồn: Quochoi.vn.

Đồng quan điểm này, các đại biểu khẳng định sự đồng tình với các định hướng lớn, đồng thời lưu ý rằng việc chuyển đổi phương thức quản lý từ "tiền kiểm" sang "hậu kiểm" trong hai lĩnh vực này đòi hỏi mức độ trọng yếu cực kỳ cao đối với công tác bảo đảm an ninh trật tự, an toàn xã hội cũng như tài sản và tính mạng của nhân dân.

Một trong những điểm cốt lõi được Trưởng ban Tổ chức Trung ương Nguyễn Duy Ngọc nhấn mạnh là yêu cầu đổi mới tư duy về khái niệm và tiêu chuẩn, định mức khi chuyển từ quy trình thủ công (tiền kiểm) sang ứng dụng chuyển đổi số (hậu kiểm). Về khái niệm và định danh, trước đây, quy trình quản lý thực hiện theo thủ tục giấy thủ công, nay chuyển sang đăng ký theo trình tự ứng dụng chuyển đổi số (ví dụ như kê khai, đăng ký trên hệ thống VNeID). Các khái niệm trong luật phải rất rõ ràng, dễ hiểu. Trưởng ban Tổ chức Trung ương dẫn chứng bài học thực tiễn từ câu chuyện súng hoa cải, súng tự chế trước đây không được đưa vào danh mục vũ khí, nhưng sau khi xảy ra các vụ nổ cướp đi sinh mệnh, sức khỏe con người, dư luận xã hội và các cơ quan chức năng mới vào cuộc để thuyết phục, giám định và điều chỉnh.

Về tiêu chuẩn, định mức và trách nhiệm pháp lý, hai dự án luật liên quan mật thiết đến các tiêu chuẩn, định mức đòi hỏi phải đồng bộ với các quy định về cấp phép và xử lý. Khi xảy ra sự việc vượt quá giới hạn xử lý hành chính chuyển sang trách nhiệm hình sự, hệ thống tiêu chuẩn, định mức phải bảo đảm minh bạch để quy rõ trách nhiệm của người đứng đầu (dù phần lớn là lỗi vô ý). Hệ thống quy định rõ ràng này sẽ tạo ra tính khả thi rất lớn khi luật đi vào cuộc sống.

Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng cũng làm rõ thêm mục đích chính của việc sửa đổi hai luật này là thực hiện chủ trương đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, đơn giản hóa thủ tục hành chính, cắt giảm giấy tờ và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số. Đối với Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ, phân cấp thẩm quyền thu hồi vũ khí, vật liệu nổ quân dụng, công cụ hỗ trợ và các loại giấy phép, giấy chứng nhận, chứng chỉ từ cấp Bộ xuống Công an cấp tỉnh. Cắt giảm thành phần hồ sơ trang bị vũ khí quân dụng, vũ khí thể thao, rút ngắn thời gian giải quyết qua ứng dụng định danh quốc gia (VNeID), bãi bỏ thủ tục cấp giấy phép kinh doanh công cụ hỗ trợ (chỉ duy trì giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh trật tự).

Đối với Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm thông qua việc tích hợp thẩm định thiết kế và kiểm tra công tác nghiệm thu (vốn trước đây do cơ quan công an thực hiện trùng lặp) sang công tác hậu kiểm gắn với kiểm tra an toàn sau khi đưa công trình, phương tiện vào sử dụng. Bãi bỏ thủ tục cấp phép trước khi lưu thông trên thị trường đối với phương tiện PCCC, cứu nạn cứu hộ và vật liệu, cấu kiện ngăn cháy để gắn với việc kiểm tra tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật theo luật chuyên ngành.

Từ góc độ lập pháp và giám sát thi hành, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng nêu ý kiến liên quan đến tính đồng bộ của hệ thống pháp luật. Về nghĩa vụ thông báo kết quả nghiệm thu PCCC, khoản 5 Điều 2 (sửa đổi khoản 4, khoản 6 Điều 18 Luật PCCC và CNCH), khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội thảo luận đã yêu cầu bổ sung quy định chủ đầu tư, chủ sở hữu công trình, phương tiện giao thông phải có văn bản thông báo tới cơ quan quản lý về kết quả nghiệm thu PCCC trước khi đưa công trình, phương tiện vào hoạt động. Tuy nhiên, dự thảo luật do cơ quan chủ trì soạn thảo chỉ bổ sung nguyên tắc cấm đưa công trình vào khai thác khi chưa nghiệm thu (do đã quy định ở Nghị định 105). Phó Chủ tịch Quốc hội băn khoăn rằng nghĩa vụ thông báo này chưa được quy định ở tầm luật mà mới nằm ở nghị định, đề nghị rà soát, đưa quy định rõ ràng này vào trong luật để làm căn cứ chủ yếu thực hiện hậu kiểm, đồng thời giao Chính phủ quy định chi tiết cách thức thực hiện. Thông tin này giúp cơ quan quản lý nắm bắt cơ sở mới đưa vào sử dụng để ưu tiên hậu kiểm nơi có nguy cơ cao, kế thừa dữ liệu sẵn có và tránh yêu cầu nộp lặp lại.

Phó Chủ tịch Quốc hội đề nghị làm rõ tính thống nhất với Luật Thủ đô và Luật Phát triển đô thị. Dự thảo đề xuất bãi bỏ điểm b khoản 2 Điều 14 Luật Thủ đô về việc ngừng cung cấp điện, nước đối với công trình hoạt động nhưng chưa có văn bản chấp thuận kết quả nghiệm thu PCCC nhằm phù hợp với việc bỏ thủ tục chấp thuận của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, khoản 2 Điều 16 Luật Phát triển đô thị cũng quy định biện pháp này, trong khi cơ quan chủ trì mới dự kiến quy định chuyển tiếp đối với các công trình đã bị ngừng cung cấp điện nước mà chưa đề xuất xử lý quy định tương ứng ở Luật Phát triển đô thị. Phó Chủ tịch Quốc hội đề nghị phân biệt rõ công trình đã nghiệm thu đúng quy định không thể bị xử lý chỉ vì thiếu văn bản mà pháp luật không còn yêu cầu; còn công trình chưa nghiệm thu hoặc không bảo đảm an toàn mà vẫn hoạt động phải có biện pháp xử lý tương thích, rà soát đồng bộ giữa các luật.

Đồng thời, Bộ trưởng Hoàng Thanh Tùng lưu ý rằng để thực hiện các nội dung đổi mới và cắt giảm thủ tục hành chính này, bắt buộc phải đồng bộ hóa cơ sở dữ liệu (Công an cấp tỉnh phải có đầy đủ cơ sở dữ liệu để cấp phép và quản lý qua dữ liệu) cũng như ban hành, cập nhật đầy đủ các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật cho công trình, phương tiện giao thông và cấu kiện ngăn cháy.

Bàn về cơ chế phân cấp, phân quyền, Trưởng ban Tổ chức Trung ương Nguyễn Duy Ngọc nhấn mạnh nguyên tắc phải xác định đi đến cùng để tránh khoảng trống pháp lý. Lấy ví dụ thực tiễn từ công tác quản lý đê điều, khi phân cấp cho cấp xã quản lý đoạn đê, nhưng trong tình huống khẩn cấp khi lũ lớn xảy ra, nếu không quyết định phù hợp sẽ có thể gây thiệt hại rất lớn. Câu hỏi đặt ra là thẩm quyền xử lý tình huống bất khả kháng có được giao cho cấp xã chịu trách nhiệm luôn không, hay đối với các vụ hỏa hoạn lớn phải phá dỡ, trưng dụng tài sản để đánh giá thiệt hại giải quyết thảm họa thì thẩm quyền giải quyết ra sao? Điều này đặt ra vấn đề tránh tình trạng đã phân công nhưng khi gặp tình huống cụ thể lại yêu cầu xin ý kiến cấp trên, làm mất thời gian và không giải quyết được yêu cầu công việc. Quy định về thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ và Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng phải rà soát cực kỳ rõ ràng.

Trưởng ban Tổ chức Trung ương Nguyễn Duy Ngọc cũng nhấn mạnh vai trò quyết định của công tác tuyên truyền, thông tin để mọi người dân nắm vững, hiểu đúng, chủ động phòng ngừa và tích cực tham gia đấu tranh, tố giác các hành vi vi phạm pháp luật.

Liên quan tới dự án Luật Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng phân tích kỹ lưỡng về mối quan hệ giữa tên gọi và phạm vi điều chỉnh của dự án luật. Dự án luật giữ tên gọi là Luật Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia, nhưng tại Điều 1 và Chương III (về công trình an ninh, khu an ninh) lại bổ sung thêm hàm ý "quản lý". Trong hệ thống công trình, dự án phân thành 3 loại: (1) công trình trọng điểm về an ninh quốc gia; (2) công trình an ninh, khu an ninh; (3) công trình quan trọng khác liên quan đến an ninh quốc gia. Tuy nhiên, chỉ có công trình an ninh và khu an ninh là có quy định về quản lý. Bộ trưởng đặt câu hỏi tại sao công trình trọng điểm về an ninh quốc gia (vốn chịu sự điều chỉnh của pháp luật về cảnh vệ) và các công trình quan trọng khác (rất đa dạng ở trung ương và địa phương) lại không được quy định nội hàm quản lý tương ứng và đề nghị cần làm rõ điểm này trong tổng thể hệ thống pháp luật để bảo đảm tính đồng bộ.

Đồng quan điểm, Đại biểu Lê Thị Thanh Lam (Đoàn ĐBQH TP. Cần Thơ) đề xuất tại khoản 7 Điều 2 (giải thích từ ngữ về "khu vực bảo vệ"), cơ quan soạn thảo cần nghiên cứu quy định rõ ràng hơn về thẩm quyền hoặc tiêu chí xác định khu vực được giới hạn (ví dụ khoảng cách tính từ ranh giới công trình là bao nhiêu mét) để tránh diễn giải quá trừu tượng, khó áp dụng trên thực địa, hoặc có thể giao Chính phủ/bộ chuyên ngành quy định chi tiết.

Liên quan tới các tiêu chí phân loại công trình quan trọng khác liên quan đến an ninh quốc gia tại Điều 7 và hệ thống thẩm quyền, đại biểu Lê Thị Thanh Lam chỉ ra rằng các tiêu chí phân loại công trình loại 1, loại 2, loại 3 hiện mang tính định tính cao (như gây hậu quả nghiêm trọng trên phạm vi toàn quốc hoặc từ 2 tỉnh trở lên). Để thực hiện thống nhất toàn quốc, đại biểu đề nghị giao Chính phủ quy định cụ thể các chỉ tiêu kỹ thuật mang tính định lượng rõ ràng, ví dụ: công suất nhà máy điện (MW), cấp điện áp đường dây truyền tải, quy mô người dùng của trung tâm dữ liệu quốc gia, mức độ ảnh hưởng số lượng tỉnh thành/người dân, hoặc tổng mức đầu tư dự án.

Về quy định công trình loại 1 là công trình đặc biệt quan trọng "thuộc phạm vi quản lý của nhiều bộ, ngành và địa phương" vô hình trung đã thu hẹp phạm vi đối tượng. Thực tế có những công trình cực kỳ đặc biệt, độc lập nằm dưới sự quản lý của duy nhất một Bộ hoặc tập đoàn nhà nước (như trung tâm dữ liệu quốc gia, công trình năng lượng hạt nhân, công trình quốc phòng đặc biệt) nhưng nếu bị tấn công sẽ tê liệt an ninh quốc gia. Do đó, đại biểu Lê Thị Thanh Lam đề nghị cấu trúc lại thành "thuộc phạm vi quản lý của một hoặc nhiều bộ, ngành, địa phương". Đại biểu lưu ý cụm từ "nếu bị xâm phạm" có phần rộng hơn so với các cụm từ "bị phá hoại, tấn công, chiếm giữ hoặc gián đoạn hoạt động, mất quyền kiểm soát". Nếu không chỉnh lý, có thể dẫn đến cách hiểu sai và làm cho hậu quả ở mức độ một số xã/phường cũng bị đưa vào danh mục an ninh quốc gia, khiến địa phương lạm dụng đưa công trình công cộng thông thường vào danh mục bảo vệ nghiêm ngặt gây lãng phí nguồn lực. Do đó, nên thống nhất sử dụng cụm từ "nếu bị phá hoại, tấn công, chiếm giữ...".

Góp ý quy định về biện pháp bảo vệ công trình trọng điểm và an ninh quốc gia, Bộ trưởng Hoàng Thanh Tùng nhận xét tên điều và nội dung chính là biện pháp bảo vệ, nhưng nội hàm các khoản lại quy định rất chung chung, mang tính viện dẫn. Bộ trưởng đề nghị nếu đã viện dẫn thì phải chỉ rõ dẫn chiếu đến luật nào (như khoản 1 dẫn chiếu pháp luật về cảnh vệ rất rõ ràng), hoặc quy định những biện pháp quan trọng nhất mang tính bản chất để làm rõ nội hàm điều luật.

Về Điều 14 và Điều 15 liên quan đến phá dỡ công trình an ninh, di dời khu an ninh, các ý kiến đóng góp tập trung vào tính minh bạch và nghĩa vụ tài chính, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng đề nghị làm rõ trách nhiệm tài chính giữa trường hợp di dời phục vụ nhiệm vụ an ninh và trường hợp di dời để thực hiện dự án phát triển kinh tế - xã hội. Đặc biệt, nếu di dời phục vụ nhiệm vụ an ninh, có thu hồi đất an ninh nhưng chưa xác định được dự án hoặc chủ đầu tư thì cơ quan nào chịu trách nhiệm bố trí kinh phí, sử dụng nguồn nào và cần có căn cứ xác định rõ trong luật. Các khoản bồi thường, hỗ trợ, chi phí xây dựng công trình thay thế cần đồng bộ với khoản 7 Điều 26 Luật Đất đai. Cần phân tách rõ chi phí di dời bảo đảm công trình tại vị trí mới với phần chi mở rộng, nâng cấp ngoài yêu cầu di dời để hạch toán đầy đủ, giao Chính phủ quy định cụ thể việc chuyển kinh phí thống nhất với pháp luật về ngân sách, đầu tư công và tài sản công.

QUẾ VÕ (t/h)