xuân

Chính sách mới, đòn bẩy mới với Giáo dục

Chuỗi quyết sách và văn bản pháp luật được ban hành trong năm 2025 không chỉ thiết lập khung thể chế mới cho giáo dục Việt Nam, mà còn mở ra cơ hội nâng cao chất lượng đào tạo, mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục công bằng và từng bước đưa hệ thống giáo dục tiệm cận chuẩn mực quốc tế.

Cơ hội nâng cao chất lượng giáo dục

Năm 2026 là năm các chính sách mới được triển khai đồng bộ và đi vào chiều sâu, tạo chuyển biến rõ nét trong hoạt động quản lý và tổ chức giáo dục ở các cấp học. Điều quan trọng là tiếp tục nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục theo hướng gắn lý luận với thực tiễn, chú trọng phát triển năng lực quản trị nhà trường, năng lực tổ chức thực hiện chính sách và khả năng thích ứng với yêu cầu đổi mới. Khi đội ngũ quản lý giáo dục được chuẩn bị đầy đủ về chuyên môn, kỹ năng và nhận thức, các cơ hội từ chính sách mới sẽ được khai thác hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục một cách ổn định và bền vững. TS Vũ Quang - Hiệu trưởng Trường Cán bộ Quản lý Giáo dục TPHCM

Một trong 10 kết quả nổi bật của ngành Giáo dục năm 2025, theo công bố của Bộ GD&ĐT, là “đột phá trong xây dựng thể chế giáo dục”.

Năm 2025 được đánh giá có số lượng văn bản pháp luật về giáo dục được ban hành nhiều nhất từ trước đến nay, với tổng cộng 99 luật, nghị quyết, nghị định và thông tư đã được ban hành hoặc trình ban hành. Lần đầu tiên trong một năm, Quốc hội thông qua đồng thời bốn dự án luật quan trọng thuộc lĩnh vực giáo dục và đào tạo, gồm: Luật Nhà giáo; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục; Luật Giáo dục đại học (sửa đổi); và Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi).

TS Vũ Quảng - Hiệu trưởng Trường Cán bộ Quản lý Giáo dục TPHCM, nhận định: “Việc Quốc hội thông qua đồng bộ các luật sửa đổi trong lĩnh vực giáo dục thể hiện rõ sự quan tâm sâu sắc và tầm nhìn dài hạn của Đảng và Nhà nước, đồng thời tái khẳng định hướng phát triển giáo dục lấy người học làm trung tâm, chất lượng và hiệu quả thực tiễn làm thước đo”.

Theo TS Quảng, chuỗi quyết sách này mở ra ba cơ hội lớn cho hệ thống giáo dục trong giai đoạn tới. Thứ nhất là cơ hội đồng bộ hóa toàn hệ thống, giảm tình trạng đứt gãy giữa các bậc học và loại hình đào tạo. Khi các quy định pháp lý được thiết kế theo hướng liên thông, nhất quán, người học có thêm điều kiện lựa chọn con đường học tập phù hợp; đồng thời, hệ thống giáo dục vận hành ổn định và liền mạch hơn.

Cơ hội thứ hai đến từ việc chuyển đổi mô hình quản lý giáo dục. Thay vì tập trung vào mệnh lệnh hành chính, chính sách mới hướng tới quản trị giáo dục dựa trên chất lượng, minh bạch và trách nhiệm giải trình. Điều này tạo điều kiện để các cơ sở giáo dục chủ động nâng cao chất lượng đào tạo, đồng thời buộc hệ thống phải đo lường hiệu quả bằng kết quả thực chất của người học, thay vì chỉ dừng ở các chỉ tiêu hình thức.

Cơ hội thứ ba là khả năng tiệm cận các chuẩn mực quốc tế một cách chủ động và có chọn lọc. TS Vũ Quảng phân tích: “Các luật sửa đổi tạo tiền đề để giáo dục Việt Nam hội nhập sâu hơn với thế giới, nhưng vẫn dựa trên điều kiện thực tiễn và các giá trị văn hóa - xã hội của Việt Nam.

Nếu được triển khai thống nhất và hiệu quả, các luật này sẽ tạo nền tảng cho chất lượng giáo dục đồng bộ, ổn định và bền vững trong giai đoạn tới”. Đây được xem là điểm tựa quan trọng giúp giáo dục Việt Nam vừa nâng cao chất lượng đào tạo, vừa giữ được bản sắc trong tiến trình hội nhập.

Ở góc nhìn của những người trực tiếp điều hành cơ sở giáo dục phổ thông, ThS Trần Thị Ngọc Tuyền - Hiệu trưởng Trường Tiểu học Việt Anh (Tân Tạo, TPHCM), cho rằng các chính sách giáo dục mới ban hành trong năm 2025 tạo ra nhiều cơ hội rõ nét cho cấp tiểu học, đặc biệt với các trường định hướng chất lượng cao.

“Khung pháp lý mới cho phép nhà trường chủ động hơn trong tổ chức chương trình và phương pháp dạy học. Điều này phù hợp với xu hướng giáo dục cá nhân hóa, dạy học theo năng lực và phát triển toàn diện học sinh”, bà chia sẻ.

Theo ThS Tuyền, khi được trao quyền chủ động trong khuôn khổ pháp luật rõ ràng, các trường có điều kiện thiết kế chương trình linh hoạt, chú trọng chiều sâu của quá trình dạy học, thay vì chỉ tập trung vào việc “dạy đúng - dạy đủ” theo chương trình cứng nhắc. Đây là cơ hội quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục ngay từ bậc học nền tảng.

Ngoài các văn bản luật, năm 2025, Bộ GD&ĐT còn chủ trì tham mưu xây dựng và trình cấp có thẩm quyền ban hành nhiều nghị quyết liên quan đến giáo dục. Với Nghị quyết về miễn, hỗ trợ học phí cho trẻ mầm non, học sinh phổ thông và người học chương trình giáo dục phổ thông trong cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, ThS Tuyền nhận định chính sách này tạo tác động tích cực cho toàn hệ thống, đặc biệt với các trường tư thục.

“Khi phụ huynh có thêm lựa chọn, các trường tư buộc phải nâng cao giá trị khác biệt, từ chất lượng giảng dạy, dịch vụ giáo dục đến chăm sóc học sinh toàn diện và xây dựng môi trường học tập an toàn, nhân văn”, bà nói. Đây được coi là “áp lực tích cực” thúc đẩy trường tư phát triển.

Cùng đó, các quy định mới liên quan đến ngoại ngữ và tổ chức chương trình tiếng nước ngoài mở ra cơ hội lớn để nâng cao năng lực hội nhập cho học sinh ngay từ cấp tiểu học. Việc tích hợp các chương trình song ngữ, tăng cường tiếng Anh học thuật, tiếng Anh giao tiếp và kỹ năng công dân toàn cầu nay có cơ sở pháp lý rõ ràng, giúp nhà trường mạnh dạn triển khai nhưng vẫn bảo đảm đúng quy định.

chinh-sach-moi-don-bay-moi-3.jpg Sinh viên Trường Đại học Văn Lang trong phòng thực hành công nghệ ô tô. Ảnh: Trà My

Phép thử của năm 2026

Không chỉ dừng lại ở việc nâng cao chất lượng, các chính sách giáo dục mới còn đặt mục tiêu mở rộng công bằng như một trụ cột xuyên suốt. Việc đầu tư cho giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học được nhìn nhận như những mắt xích liên hoàn, cùng hướng tới mục tiêu phát triển con người toàn diện. TS Vũ Quảng phân tích: “Công bằng không chỉ là mở rộng cơ hội tiếp cận, mà quan trọng hơn là bảo đảm chất lượng giáo dục cho mọi đối tượng học sinh”.

Ở cấp lớp học, mục tiêu công bằng được cảm nhận rõ nhất qua những thay đổi trong hoạt động dạy và học hàng ngày. ThS Trần Thị Ngọc Tuyền - Hiệu trưởng Trường Tiểu học Việt Anh, cho rằng, với các trường tư thục chất lượng cao, công bằng không chỉ là khả năng tiếp cận mà còn là tạo cơ hội phát triển tối đa cho từng học sinh. Học sinh không bị đặt trong một khuôn mẫu chung mà được theo dõi, đánh giá dựa trên sự tiến bộ cá nhân.

Nhà trường chú trọng công bằng trong chăm sóc cảm xúc, tâm lý và kỹ năng xã hội, bảo đảm mỗi học sinh được lắng nghe, hỗ trợ khi gặp khó khăn và có cơ hội tham gia các hoạt động trải nghiệm, nghệ thuật, thể thao để phát triển năng lực cá nhân, thay vì chỉ tập trung vào thành tích học thuật. Ngoài ra, công bằng còn thể hiện ở việc đồng hành chặt chẽ với phụ huynh, giúp gia đình hiểu đúng triết lý giáo dục của nhà trường và cùng xây dựng hệ sinh thái giáo dục nhất quán cho trẻ.

chinh-sach-moi-don-bay-moi-4.jpg Ngày hội công nghệ và nghề nghiệp cho sinh viên Viện Kỹ thuật Công nghệ, Trường Đại học Thủ Dầu Một, tháng 12/2025. Ảnh: TDMU

Hội nhập quốc tế từ khát vọng chính sách

Trong năm 2025, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, khẳng định giáo dục và đào tạo là nhân tố quyết định tương lai dân tộc, đồng thời là động lực then chốt cho sự phát triển bứt phá của đất nước. Nghị quyết 71 được xem là cú hích quan trọng, thắp lên khát vọng đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế của giáo dục Việt Nam.

GS.TS Ngô Thị Phương Lan - Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia TPHCM), cho rằng để giáo dục đại học Việt Nam vươn tầm quốc tế, hội nhập không thể chỉ dừng ở việc mở rộng hợp tác hay gia tăng số chương trình liên kết đào tạo.

Quan trọng hơn là hiện đại hóa toàn diện hệ thống, từ chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy, nghiên cứu khoa học đến quản trị đại học. Theo bà, hội nhập quốc tế đòi hỏi các trường phải chuẩn hóa chương trình theo thông lệ quốc tế, tăng cường năng lực nghiên cứu, phát triển đội ngũ giảng viên và xây dựng môi trường học thuật cởi mở. Đây là điều kiện để người học không chỉ có bằng cấp, mà còn sở hữu năng lực làm việc, tư duy phản biện và khả năng thích ứng trong môi trường toàn cầu.

Ở cấp tiểu học, Hiệu trưởng Trường Tiểu học Việt Anh cho rằng nâng cao chất lượng giáo dục cần tiếp cận theo tinh thần “toàn cầu trong tư duy, Việt Nam trong gốc rễ”. Nhà trường có thể mạnh dạn áp dụng các chuẩn mực quốc tế về phương pháp giảng dạy, phát triển năng lực, ngoại ngữ và công nghệ giáo dục, nhưng luôn đặt đặc điểm tâm lý, văn hóa và nhịp phát triển tự nhiên của trẻ em Việt Nam làm trung tâm.

Theo bà, hội nhập không đồng nghĩa với tạo áp lực thành tích sớm hay biến trẻ em thành “người lớn thu nhỏ”. Mục tiêu của giáo dục tiểu học trong bối cảnh hội nhập là giúp học sinh hình thành năng lực học tập suốt đời, tư duy mở, khả năng thích ứng và bản sắc cá nhân vững vàng.

“Khi trẻ lớn lên trong môi trường giáo dục nhân văn, chất lượng và tôn trọng bản sắc, các em sẽ tự tin hội nhập quốc tế mà không đánh mất chính mình”, ThS Trần Thị Ngọc Tuyền nhấn mạnh.

Ở góc nhìn khác, PGS.TS Thái Bá Cần - Hiệu trưởng Trường Đại học Gia Định, cho rằng Nghị quyết 71 đã “thắp lửa” cho khát vọng đổi mới sáng tạo trong các cơ sở giáo dục đại học. Tuy nhiên, để khát vọng đó trở thành hiện thực, thách thức lớn nhất vẫn là năng lực triển khai và tổ chức. Theo ông, hội nhập quốc tế không phải là cuộc chạy đua hình thức, mà là quá trình nâng cao chất lượng nội sinh của từng nhà trường.

Ông Cần nhấn mạnh, đổi mới sáng tạo trong giáo dục đại học cần gắn chặt với nhu cầu thực tiễn của xã hội và thị trường lao động. Khi chương trình đào tạo được thiết kế theo hướng mở, linh hoạt, kết hợp nghiên cứu ứng dụng và khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, người học mới thực sự trở thành trung tâm của tiến trình hội nhập.

Đề cao vai trò con người, Hiệu trưởng Trường Đại học Gia Định cho rằng yếu tố then chốt để thực hiện thành công Nghị quyết 71 chính là chất lượng đội ngũ quản lý, giảng viên và nhà khoa học. “Tự chủ là cần thiết, nhưng quan trọng hơn là phải có đội ngũ đủ mạnh để dẫn dắt sự phát triển. Nếu thiếu nhân lực chất lượng cao, quyền tự chủ sẽ khó phát huy hiệu quả”, ông Cần nhấn mạnh.

Bàn về tinh thần tự chủ và đổi mới sáng tạo mà Nghị quyết 71 đặt ra, PGS.TS Thái Bá Cần nhận định đây là định hướng đúng, song việc triển khai thực tế còn nhiều thách thức. Theo ông, quyền tự chủ đại học hiện chưa thực sự trở thành quyền pháp định đầy đủ do vẫn tồn tại sự khác biệt về mức độ phân quyền giữa các cơ sở giáo dục. Bên cạnh đó, hành lang pháp lý về tài chính và chuyên môn dù đã thông thoáng hơn nhưng cần tiếp tục hoàn thiện, giúp các trường vận hành linh hoạt và hiệu quả.