xuân

Luật Giáo dục đại học (sửa đổi): Mở rộng tự chủ, thúc đẩy chuyển đổi số

1. Tự chủ gắn với cơ chế tự chịu trách nhiệm và trách nhiệm giải trình

Theo Khoản 2, Điều 3, quyền tự chủ là quyền được chủ động quyết định gắn với trách nhiệm giải trình theo quy định của pháp luật về chuyên môn học thuật, đào tạo, nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế, cơ cấu tổ chức, nhân sự, tài chính và những hoạt động giáo dục đại học khác.

Theo Khoản 2, Điều 4, bảo đảm quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm và trách nhiệm giải trình của cơ sở giáo dục đại học; hiệu lực quản lý Nhà nước, sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan có thẩm quyền.

Trách nhiệm giải trình là việc cung cấp, cập nhật, công khai, minh bạch thông tin, tiếp nhận, xử lý, phản hồi thông tin, kiến nghị từ các bên liên quan; báo cáo, chịu sự giám sát, kiểm tra của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền và xã hội.

2. Ứng dụng công nghệ trong giáo dục đại học

Điều 10 bổ sung quy định cho phép các cơ sở giáo dục đại học chủ động ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và công nghệ tiên tiến trong quản lý và tổ chức đào tạo. Việc ứng dụng công nghệ phải tuân thủ pháp luật, bảo đảm chất lượng đào tạo, an toàn thông tin, bảo mật dữ liệu, quyền tiếp cận bình đẳng của người học, minh bạch trong quản trị và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.

Khoản 3 Điều 10 quy định cho phép cơ sở giáo dục đại học hợp tác với doanh nghiệp, viện nghiên cứu để bồi dưỡng năng lực số và triển khai các giải pháp công nghệ tiên tiến. Quy định cũng làm rõ trách nhiệm của cơ sở giáo dục đại học trong việc chuyển đổi số trong quản trị, tổ chức đào tạo.

luat-giao-duc-dai-hoc-2.jpg Ảnh minh họa.

3. Quy định rõ nguyên tắc hoạt động giáo dục đại học

Khoản 1, Điều 3 bổ sung quy định về hoạt động giáo dục đại học, như sau: Hoạt động giáo dục đại học là những hoạt động xây dựng, phát triển chương trình đào tạo, điều kiện bảo đảm chất lượng; tuyển sinh, tổ chức đào tạo gắn với nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo; đánh giá, kiểm định chất lượng.

Điều 4 chỉ rõ các nguyên tắc hoạt động giáo dục đại học: Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật. Bảo đảm quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm và trách nhiệm giải trình của cơ sở giáo dục đại học; hiệu lực quản lý Nhà nước, sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan có thẩm quyền. Bảo đảm chất lượng, hiệu quả, công bằng, bình đẳng trong tiếp cận giáo dục đại học, thúc đẩy học tập suốt đời.

Bảo đảm tự do học thuật gắn với liêm chính học thuật và trách nhiệm đối với cộng đồng. Phát triển nhân tài, gắn kết đào tạo nhân lực trình độ cao với nghiên cứu khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Thúc đẩy hợp tác, cạnh tranh bình đẳng, minh bạch dựa trên chất lượng, hiệu quả.

4. Đa dạng hóa phương thức đào tạo

Điều 26 mở rộng và đổi mới cách thức tổ chức đào tạo, nhấn mạnh tổ chức linh hoạt, với các phương thức trực tiếp, từ xa, kết hợp và lần đầu tiên ghi nhận mô hình giáo dục đại học số trên nền tảng công nghệ, kết nối tài nguyên mở, không giới hạn không gian - thời gian.

Đồng thời, hoàn thiện quy định về văn bằng, chứng chỉ, công nhận và chuyển đổi kết quả học tập giữa các trình độ, gắn với yêu cầu quản lý và bảo đảm chất lượng cho mọi hình thức, phương thức đào tạo. Bộ GD&ĐT có trách nhiệm ban hành quy chế, hướng dẫn triển khai, nâng cao tính linh hoạt và minh bạch trong quản lý.

5. Bổ sung quyền và nhiệm vụ của hội đồng trường, hiệu trưởng

Điều 16 bổ sung và làm rõ quyền, nhiệm vụ của hội đồng trường và hiệu trưởng cơ sở giáo dục đại học. Luật quy định cụ thể thẩm quyền bổ nhiệm, điều động, luân chuyển và bãi miễn chủ tịch hội đồng trường, hiệu trưởng, tạo cơ chế quản lý minh bạch, rõ ràng và có trách nhiệm giải trình.

Điều 12 bổ sung các cơ sở giáo dục đại học không thuộc đối tượng quản lý Nhà nước theo luật hiện hành trở thành đối tượng áp dụng của Luật, bao gồm viện nghiên cứu, các trường bồi dưỡng, các học viện có hoạt động đào tạo trình độ đại học và sau đại học.