xuân

Ân tình không phai

GD&TĐ - Bữa tối, ông Nhân uống xong những chén trà Long Tỉnh thơm lừng. Nghe nói đây là loại danh trà xanh nổi tiếng bậc nhất ở Hàng Châu (Trung Quốc) có từ 1.200 năm trước.

Ông kéo chiếc ghế chao ra sát cửa sổ, ngồi đung đưa nhìn lên bầu trời. Những kỷ niệm đầy thương nhớ ùa về như những bức tranh trong một quyển truyện tranh mà ông Nhân từng mê đắm thuở thiếu thời.

Người thầy của những người thầy

Ông nhớ những ngày đứng trên bục giảng, nhớ thầy, nhớ bạn, nhớ học trò. Bỗng mơ mơ hồ hồ ông thấy bóng thầy Liêu. Ấy thế mà thầy ra đi đã gần nửa thế kỷ. Thời ấy ông vừa tốt nghiệp và được điều về một trường đại học mới thành lập. Về đến nơi ông mới gặp thêm năm anh bạn nữa, thành nhóm “sáu tên”, đều là học trò thầy Liêu bên Sư phạm.

Cái cảm giác bâng khuâng trước công việc xây dựng một khoa đào tạo bậc đại học nghe có vẻ như mình là nhóm người Venetica* xây dựng thành Venice nhưng rồi bâng khuâng nhìn xuống chỉ thấy hai bàn tay trắng và sáu tấm lòng trong sạch, hăng hái.

Muốn có Khoa, phải có chương trình đào tạo. Có chương trình đào tạo phải viết sách, nhưng ai viết? Mấy anh chàng vừa “ra lò” viết được sao? Vả lại lấy đâu ra sách mà tham khảo. Thời bao cấp ai cho anh tích lũy và đọc sách tư bản. Cuối cùng thì nhóm “sáu tên” nghĩ ra một điều: Thầy!

Ông Nhân cưỡi trên chiếc xe đạp thấp tè của trẻ con Liên Xô, được mệnh danh là “mô-tô con vịt” từ khu sơ tán lao qua cầu phao sông Hồng về Hà Nội, rồi lại lặn lội vượt qua Ba La Bông Đỏ trong tiếng còi hú báo động “Máy bay địch cách Hà Nội 50 cây số” lên khu sơ tán của Sư phạm để tìm thầy Liêu!

Thầy đã viết cho khoa tiếng Anh mới cuốn sách thực hành tiếng Anh để rồi tháng tháng năm năm trôi đi nó được đắp đầy những kiến thức khác trở thành một chương trình đào tạo đầy đặn. Rồi nữa theo chu kỳ một, hai tuần thầy lại “cưỡi con lừa”, một dòng xe máy “lùn” của Tiệp, xuống khu sơ tán hướng dẫn cho đám học trò cũ từng góc cạnh của việc dạy học.

Ông Nhân dướn người lên, tì chân xuống sàn cho chiếc ghế chao dừng lại. “Nửa thế kỷ đã trôi qua, mình đã làm được gì để bù đắp điều mình nợ thầy. Biếu thầy một phong bì chăng? Biếu thầy dăm mười lít xăng chăng? Một giỏ hoa quả chăng?”. Vào cái thời của ông Nhân người ta thấy xấu hổ khi đền đáp thầy bằng tiền hay mấy cái của nợ vật chất, dù cho họ nghèo và rất nghèo.

Những con người thời ông Nhân lăn ra thực hiện những điều thầy dạy và thực hiện thành công, kèm theo đó là ân tình, thành kính nằm mãi mãi trong tâm hồn những người học trò, không hề nghĩ đến đòi hỏi gì. Sau nửa thế kỷ cách suy nghĩ ấy đã trở thành “lạc hậu” vì con người đã tận dụng tối đa tư duy “Có thực mới vực được đạo”, một lối tư duy bóp méo chua chát lắm.

Khi thầy Liêu mất, nhà giáo, nhà thơ Vũ Đình Liên nổi tiếng với bài “Ông đồ”, đã khóc thầy Liêu bằng bốn câu thơ:

Có những tin như mũi sắt nung

Cháy gan cháy ruột nát tan lòng.

Anh Liêu đã mất ai ngờ được

Người ấy không còn

có uổng không.

Ông Nhân có kể rằng cũng trong những ngày buồn, tiễn đưa thầy ấy, ông đã xem cuốn phim Mỹ Mr. Holland nói về người thầy dạy nhạc. Khi thầy về hưu học trò đến đông đầy cả hội trường, cô học trò Gertrude Lang, lúc ấy là Thống đốc bang đến dự và phát biểu.

Cô nói: “Thầy Holland có một ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc đời tôi và nhiều người khác nữa. Thầy đã kiên nhẫn sáng tác bản symphony, một bản nhạc đáng ra sẽ làm thầy giàu có và nổi tiếng, nhưng thầy không giàu và không nổi tiếng. Thầy có thể nghĩ mình đã thất bại trong cuộc đời. Nhưng thầy đã lầm, thầy đã thành công vượt xa sự giàu có và nổi tiếng.

Hãy nhìn quanh ta. Không có một cuộc đời nào trong phòng này là không có ảnh hưởng của thầy. Tất cả chúng em đã tốt lên nhờ thầy. Chúng em là bản symphony của thầy. Chúng em là giai điệu, là những nốt nhạc trong bản opus ấy. Chúng em là âm nhạc của cuộc đời thầy”.

Ông Nhân lẩm bẩm “Tôi xin chân thành mượn lời của Gertrude Lang khóc thầy Liêu của tôi”.

an-tinh-khong-phai-3.png Brian Hill (trái) - người thầy thứ hai mà ông Nhân yêu quý và ân tình. Ảnh: NVCC
an-tinh-khong-phai-2.png Thầy đã thành công vượt xa sự giàu có và nổi tiếng vì tất cả học trò tốt lên nhờ thầy. Ảnh: NVCC.

Những món quà tri âm

Đang mơ màng với hình ảnh thầy Liêu, ông Nhân thấy chuông điện thoại reo. Ai thế nhỉ, khuya thế này rồi?. “Tôi nghe”. “Hi, Nhan. Brian speaking”. “Ôi, mừng quá, nghe thầy gọi, thầy Hill. Thầy gọi từ đâu đấy ạ?”. “Brighton. We’re heading to Vietnam soon”. “Thầy ở Việt Nam được bao lâu ạ?”. “Gonna stay for about a week”.

Brian Hill là người thầy thứ hai mà ông Nhân yêu quý và ân tình. Thầy định hướng cho ông phát triển sự nghiệp với xu hướng đưa công nghệ vào lớp học, một xu hướng đi trước thời đại ở Việt Nam thời ấy.

Phương pháp của thầy khác với thầy Liêu ở chỗ một thầy cầm tay chỉ việc, hỗ trợ trực tiếp cho học trò đi, một thầy giúp học trò sử dụng thư viện và cách tư duy phản biện để họ tự đi. Một sự hài hòa tuyệt vời! Nó đã đẩy sự nghiệp của ông Nhân lên từng bước từ cơ bản, chậm và chắc.

Cuộc thoại giữa hai phương trời cách xa nhau hàng vạn dặm tuy ngắn ngủi nhưng cũng đủ để đưa hai thầy trò ông Nhân gặp lại sau mười năm vắng bóng nhau. Hai thầy trò ông Nhân hòa mình vào nền văn hóa truyền thống ở những nơi linh thiêng, thưởng thức “chén chè năm nghìn” trên vỉa hè, một tập tục mà thầy Hill thấy lạ lẫm nhưng thú vị, rồi không bỏ qua bát mỳ vằn thắn phố cổ hay phở Bà Lâm phố Nam Ngư, và khi chiều buông thì thưởng thức cốc cà phê 11 Hàng Gai.

Chẳng phải ở đó cà phê ngon nhất Hà Nội mà vì nó nằm trong căn nhà đã hơn một trăm năm trên đất thành đô trong không khí hoài niệm. Đây là lần đầu tiên thầy Hill đến một nước châu Á nên niềm vui tăng lên gấp bội. Chính ở những hàng quán đó thầy kể cho ông nghe tâm sự của thầy về nghề nghiệp và về những người học trò nước ngoài đã để lại một điểm sáng trên quê hương họ.

Ông Nhân lững thững ra bến xe buýt gần nhà đi thăm anh bạn xưa, Thiệp. Hai nhà ở đầu tỉnh cuối tỉnh nên ông phải chuyển tuyến một lần mới đến. Thiệp bị đột quỵ và phải ngồi xe lăn năm năm nay rồi, trí nhớ ngày càng kém, nhưng may mắn chỉ không nhớ được những việc mới nạp vào đầu gần đây thôi, còn ký ức về ngày xưa vẫn ghim chặt trong tim.

Thiệp nhìn chằm chằm ông khách. Ông Nhân nắm vai Thiệp cười nói: “Nhớ tao không?”. Hai người bạn nhìn nhau, rồi Thiệp nhoẻn miệng nói:

“Nhân hả?”. Hai cố nhân hỏi thăm nhau vài câu rồi lại quay sang chuyện ngày ấy. “Mày còn nhớ thời đi học Liên Xô không?”. “Ờ ờ... Nhớ nhiều chứ! À, mà tao nhớ nhất là cái thư mày viết cho tao. Xa nhà... mày viết thư cho tao. Viết hay lắm”. “Mày còn nhớ mày nói gì không?”. “Nói gì cơ, nói lúc nào?”. “Lúc mày về nước, tao đến lấy bộ kìm búa ấy”.

Thiệp cười khục khục một lúc, mắt đẫm nước. Thời ấy được đi Liên Xô là một phần thưởng hiếm có. Gần đến ngày về Thiệp nhắn cho Nhân là muốn gì ông mua cho. Ông Nhân nói “Bộ kìm búa”. Thật là một yêu cầu “búa bổ” vì lúc ấy ai đi Liên Xô cũng đều phải chắt chiu từng món hàng, từng cân để mang về thoát nghèo.

Ông Thiệp vui vẻ mua về cho bạn. Ông Nhân lại nhắc đến món quà cái áo bông: “Sau năm ấy thằng Vũ đi học Anh mua về cho tao chiếc áo bông lông chim. Tao mặc suốt mười năm. Nó cứu tao khỏi mười mùa Đông mưa dầm gió bấc”. Thấy nói đến Vũ, ông Thiệp mếu máo vừa khóc vừa nói: “Nó đi rồi”.

Ông Nhân vội vàng nhích lại lấy hai tay ôm lấy mặt ông Thiệp vừa lắc lắc, vừa lau nước mắt cho bạn. “Thôi mày ạ, rồi chúng mình sẽ đi cả thôi. Để tao thắp nén hương cho nó, cho thằng Trần, thằng Tá và thằng Ca. Chúng mình âm dương tụ họp một lúc nhé”. Ông Nhân đứng dậy ra bàn thờ thắp bốn nén hương trầm, làn khói mỏng manh lan tỏa mùi hương tinh khiết, thanh thoát.

Thế hệ ông Nhân sống với nhau như thế, sống với nhau tử tế ngay từ khi bước vào đời. Những năm 1960 - 1970 là thời bao cấp. Ai cũng nghèo lắm, giới giáo viên đại học cũng chỉ 64 đồng một tháng. Cái gì cũng thiếu. Cái xích, cái líp xe đạp, cái quần, cái áo may-ô cũng phải bắt thăm. Tuy nghèo nhưng con người tử tế và rộng lượng với nhau lắm. “Đứa nào cần thì lấy trước đi”.

an-tinh-khong-phai-4.png Quà từ phương xa về cho thầy. Ảnh: NVCC.

Tiền bạc, quà bánh chỉ là tượng trưng, không phải là điều người ta nhắm đến, giành giật. Mỗi khi nhắc lại chuyện này, ông Nhân thường nói: “Đối với chúng tôi ngày ấy món quà dù nặng như bộ kìm búa hay nhẹ như áo lông chim thì ân tình nằm trong nó như nhau thôi”. Nhóm ông Nhân sống với nhau tình cảm và vui lắm. Họ quy định với nhau rằng “Thằng nào đi nước ngoài phải cắp nách về một chai rượu whisky”.

Trời mới nhập nhoạng tối, ông Nhân ngồi đung đưa trên ghế chao, đọc sách. Thoảng đâu đây trong gió một mùi hương ngọt ngào. Ông Nhân bỗng hạ sách xuống, lòng thấy buồn vu vơ. Bỗng nghe tiếng gọi cửa và tiếng gọi của bà Nhân: “Ông ơi, có khách”.

Ông Nhân lững thững xuống cầu thang. Là cậu Sơn mới đi công tác ở Anh và làm việc với the University of Southampton. Sơn kể cậu gặp một cô giáo người Việt. Giờ nghỉ, nói chuyện loanh quanh hóa ra cô ấy là học trò cũ của ông. Cô ấy là GS. TS Bùi Minh Hồng.

“Cô ấy kể với cháu là sau khi tốt nghiệp đã sang Anh quốc lập nghiệp, phải đến hơn hai mươi năm rồi. Cô gửi cháu mang về cho bác hai món quà nhỏ: hộp chè có cờ Anh và cuốn sổ tay nhỏ, bên ngoài cũng có cờ Anh”. Ông Nhân cảm động lắm, nói với Sơn: “Cháu xem, một người học trò tử tế, nghĩa tình là như thế đấy. Cô ấy không những nhớ thầy mà còn nhớ cả ý thích của thầy cũ nữa. Cháu biết bác rất thích trên các kỷ vật của bác có một hình tượng nước Anh”.

Sơn ra về, ông Nhân vẫn ngồi ngẩn ngơ. Ông cảm thấy làn gió lạnh hình như ấm lại. Ai cũng hiểu rằng gửi quà từ phương xa về cho thầy là hành động tri ân, thể hiện sự kính trọng và tấm lòng hướng về người lái đò. Nó làm cho cuộc sống của người thầy trở nên ý nghĩa hơn, nó là tình cảm đã kéo gần khoảng cách và làm cho người thầy yêu quý, tôn trọng người trò hơn là món quà.