Với hàng chục nhà khoa bảng nổi danh qua nhiều thế kỷ, nơi đây xứng đáng được xem là vùng đất thánh, đất học và đất văn hiến.
Nằm cách trung tâm Hà Nội khoảng 25km về phía Tây Nam, làng Bối Khê không chỉ nổi tiếng bởi truyền thống hiếu học mà còn bởi di tích quốc gia đặc biệt chùa Bối Khê. Ngôi chùa cổ là nơi thờ Đức Thánh Bối - nhân vật được người dân địa phương tôn kính như vị thánh bảo hộ, góp phần tạo nên nét linh thiêng và bản sắc riêng cho vùng đất này.
Đất thiêng kết tinh khoa bảng
Đức Thánh Bối, tên thật là Nguyễn Bình An (1281 - 1375), là một vị thiền sư đắc đạo sống dưới triều Trần, được nhân dân nhiều địa phương tôn kính và thờ phụng như một vị thánh. Theo thần tích và các tư liệu lịch sử, ông mồ côi cha mẹ từ nhỏ, sớm bộc lộ tư chất thông minh, lòng nhân hậu và niềm say mê học tập. Năm 15 tuổi, ông xuất gia, theo học thiền sư Phạm Cốc.
Tương truyền, Đức Thánh Bối có đạo hạnh cao thâm và nhiều phép thần thông. Năm 1307, khi hạn hán kéo dài, vua Trần Anh Tông đã triệu ông vào kinh thành Thăng Long cầu mưa. Sau lễ cầu đảo, mưa lớn liên tiếp trong ba ngày, giúp người dân vượt qua nạn hạn. Ông cũng được ghi nhận là người có công tu sửa, mở mang chùa Bối Khê và chùa Trăm Gian. Trong dân gian vẫn lưu truyền nhiều huyền tích về vị thiền sư này, như chuyện “đi mây về gió”, nuôi hàng trăm thợ xây chùa bằng một niêu cơm nhỏ không bao giờ vơi hay những dấu chân thánh còn in dấu ở nhiều làng quê quanh vùng.
Năm 1375, khi 95 tuổi, Đức Thánh Bối biết trước ngày viên tịch. Trước khi mất, ông căn dặn môn đồ đặt thi hài trong khám gỗ và chỉ mở ra sau 100 ngày. Tuy nhiên, chỉ khoảng một tháng sau, người dân kể rằng từ khám gỗ tỏa ra hương thơm và ánh hào quang kỳ lạ. Từ đó, ông được nhân dân tôn là Đức Thánh Bối và lập đền thờ tại nhiều địa phương.
Trong tâm thức người dân, Bối Khê là vùng đất thiêng được Đức Thánh Bối che chở, phù hộ. Cũng bởi vậy, nơi đây từ lâu nổi tiếng với truyền thống hiếu học và khoa bảng. Theo “Lê gia phả ký”, làng Bối Khê có tới 14 nhà khoa bảng, gồm 4 vị đỗ đại khoa, 5 vị đỗ trung khoa và 5 vị đỗ tiểu khoa.
Tiêu biểu nhất trong số đó là Nguyễn Trực (1417 - 1474), danh nho lỗi lạc của Đại Việt, người được hậu thế tôn vinh với danh hiệu “Lưỡng quốc Trạng nguyên”. Sinh ra trong một gia đình thanh bạch, cha từng giữ chức Giáo thụ Quốc Tử Giám, Nguyễn Trực từ nhỏ đã nổi tiếng thông minh và hiếu học. Tương truyền, khi đi chăn trâu, ông vẫn mang theo sách để tranh thủ học tập.
Sắc phong của vua Lê Hiển Tông ban cho Lê Huy Cảnh, thân phụ Hoàng giáp Lê Huy Trâm, ghi nhận công lao giáo dưỡng người con đỗ Tiến sĩ.
Năm 17 tuổi, Nguyễn Trực đỗ đầu kỳ thi Hương. Đến năm 1442, ông đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ đệ nhất danh (Trạng nguyên) dưới triều vua Lê Thái Tông, đứng đầu 33 vị tiến sĩ cùng khoa. Tên tuổi ông được khắc ở vị trí đầu tiên trên tấm bia Tiến sĩ đầu tiên tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám.
Không chỉ nổi tiếng về tài học, Nguyễn Trực còn được đánh giá cao bởi tư tưởng trị quốc tiến bộ. Trong bài thi Đình còn lưu giữ đến ngày nay, ông đề cao việc trọng dụng nhân tài, nhấn mạnh vai trò đạo đức của người cầm quyền và cảnh báo những tác hại của kẻ tiểu nhân đối với quốc gia. Những quan điểm ấy cho thấy tầm nhìn chính trị sâu sắc của một trí thức trẻ thời Lê sơ.
Theo nhiều thư tịch cổ, trong một lần đi sứ nhà Minh cùng Bảng nhãn Trịnh Thiết Trường, Nguyễn Trực tham dự kỳ thi do triều đình Trung Hoa tổ chức và xuất sắc đỗ đầu bảng. Trịnh Thiết Trường cũng đạt danh vị Bảng nhãn. Trước tài năng của sĩ tử Đại Việt, vua Minh đã ban tặng Nguyễn Trực danh hiệu “Lưỡng quốc Trạng nguyên”. Khi trở về nước, ông được triều đình trọng thưởng và giao nhiều trọng trách.
Suốt cuộc đời làm quan, Nguyễn Trực nổi tiếng thanh liêm và tận tụy. Sau khi mẹ qua đời, ông xin về quê chịu tang, mở trường dạy học, bốc thuốc giúp dân. Học trò theo học rất đông, nhiều người sau này trở thành những nhân vật có đóng góp cho đất nước.
Dưới các triều vua Lê Nhân Tông và Lê Thánh Tông, Nguyễn Trực luôn được trọng dụng. Ông để lại nhiều dấu ấn trong lĩnh vực chính trị, ngoại giao, văn chương và học thuật. Dẫu vậy, cuối đời ông vẫn mong muốn trở về quê hương, sống cuộc đời thanh đạm, gần gũi với người dân và ruộng đồng.
Nguyễn Trực qua đời năm 1474, thọ 57 tuổi. Tên tuổi của ông không chỉ là niềm tự hào của làng Bối Khê mà còn trở thành biểu tượng tiêu biểu cho truyền thống hiếu học, tài năng và khí tiết của tầng lớp trí thức Đại Việt thời Lê sơ.
Cổng đền thờ Trạng nguyên Nguyễn Trực tại làng Bối Khê (Tam Hưng, Hà Nội).
Đỗ đạt hiển vinh, tiết trung trọn vẹn
Theo “Lê gia phả ký”, sau Trạng nguyên Nguyễn Trực, làng Bối Khê còn có ba vị đại khoa khác là Tiến sĩ Nguyễn Đỗng, Hoàng Bá Dương và Hoàng giáp Lê Huy Trâm. Tuy nhiên, do những biến động của lịch sử, tư liệu về Nguyễn Đỗng và Hoàng Bá Dương hiện chỉ còn lại những ghi chép rời rạc. Riêng cuộc đời và sự nghiệp của Hoàng giáp Lê Huy Trâm được lưu giữ khá đầy đủ trong các nguồn sử liệu và gia phả địa phương.
Lê Huy Trâm sinh năm 1742 trong một gia đình có truyền thống khoa bảng. Cha ông là Hương cống Lê Huy Cảnh, còn mẹ là cháu ngoại của Giải nguyên Nguyễn Thành Thể, thuộc dòng họ Nguyễn nổi tiếng ở làng Đông Tác, Thăng Long.
Từ nhỏ, Lê Huy Trâm đã nổi tiếng thông minh, ham học. Năm 18 tuổi, ông được tuyển vào học tại Quốc Tử Giám. Ba năm sau đỗ Sinh đồ (Tú tài), rồi tiếp tục đỗ Hương cống năm 1769. Sau nhiều lần tham dự kỳ thi Hội, khoa Kỷ Hợi (1779), ông đỗ Đình nguyên Hoàng giáp, trở thành một trong những nhà khoa bảng tiêu biểu của triều Lê.
Sau khi đỗ đạt, ông đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng như Hàn lâm hiệu lý, Giám sát ngự sử đạo Thanh Hóa, Trực giảng Quốc Tử Giám, Hiến sát sứ Sơn Tây, Đông các Hiệu thư và Hàn lâm viện Thị độc. Không chỉ là vị quan thanh liêm, tận tụy, ông còn là học giả uyên bác, từng tham gia chấm thi và đào tạo nhân tài cho triều đình.
Bia Tiến sĩ khoa thi năm 1442, khoa thi có Trạng nguyên Nguyễn Trực đỗ đầu.
Cuộc đời của Hoàng giáp Lê Huy Trâm gắn với giai đoạn lịch sử đầy biến động cuối thế kỷ XVIII. Khi triều Lê suy yếu, phong trào Tây Sơn nổi lên và đất nước liên tiếp trải qua những biến chuyển lớn, ông vẫn một lòng trung thành với nhà Lê. Sau chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa năm 1789, dù được mời ra cộng tác với triều đại mới, ông đã chọn con đường ẩn dật.
Trong nhiều năm, ông cùng gia quyến phiêu bạt qua nhiều địa phương để tránh sự truy tìm của chính quyền Tây Sơn. Có thời gian ông ẩn cư tại Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, chùa Tây Phương hay động Hương Tích. Sau này, khi nghe tin Nguyễn Phúc Ánh dựng nghiệp ở phương Nam, ông từng vào Gia Định với mong muốn tìm cơ hội khôi phục nhà Lê. Tuy nhiên, nhận thấy điều đó không thể thực hiện, ông lặng lẽ trở về quê hương.
Đầu năm 1802, vua Gia Long ban chiếu phong ông chức Thái Hòa điện học sĩ, ghi nhận là người “văn chương lỗi lạc, khí tiết đáng trọng”. Tuy nhiên, chưa kịp nhận chức thì ông lâm bệnh qua đời ngày 16/2/1802, hưởng thọ 60 tuổi.
Khi Hoàng giáp Lê Huy Trâm mất, vua Gia Long đã sai quan đến tế viếng và cho con cháu được hưởng chế độ tập ấm. Bạn đồng khoa của ông là danh sĩ Phạm Quý Thích cũng viết câu đối viếng đầy tiếc thương, ca ngợi tài năng và nhân cách của người bạn tri kỷ.
Không chỉ là một đại khoa nổi danh, Lê Huy Trâm còn được hậu thế tôn xưng là “Bối Khê phu tử”. Hơn hai thế kỷ đã trôi qua, tên tuổi của ông vẫn được người dân quê hương trân trọng nhắc nhớ như biểu tượng của tài năng, học vấn và khí tiết của đất học Bối Khê.
Bằng Tiến sĩ cấp cho Hoàng giáp Lê Huy Trâm năm Cảnh Hưng thứ 41 (1780), dưới triều vua Lê Hiển Tông.
Pho sử của một dòng họ văn hiến
Nằm bên quần thể chùa Bối Khê, khu lăng mộ và từ đường họ Lê vẫn lặng lẽ nép mình dưới những tán cây cổ thụ hàng trăm năm tuổi. Đây là một trong những dòng họ danh giá của vùng xứ Đoài, nhiều đời hiển đạt cả văn lẫn võ, được hậu thế ca ngợi là “Thi thư thế trạch - võ văn thế thất”.
Trong kho tàng di sản mà dòng họ còn lưu giữ, “Lê gia phả ký” được xem là báu vật đặc biệt. Không chỉ ghi chép lịch sử của một dòng họ, cuốn gia phả còn phản ánh sinh động đời sống xã hội, văn hóa và truyền thống khoa bảng của vùng đất Bối Khê qua nhiều thế kỷ.
Theo các tư liệu hiện còn, phần đầu của gia phả do Hoài Viễn tướng quân, Điện tiền Đô chỉ huy sứ, Viên Triệu hầu Lê Đình Trân khởi thảo vào năm Nhâm Tuất (1742), dưới triều vua Lê Hiển Tông. Đến năm 1789, Hoàng giáp Lê Huy Trâm tiếp tục hiệu đính, bổ sung. Hơn một thế kỷ sau, vào năm Đinh Dậu (1897), Hàn lâm Lê Tân biên soạn thêm phần dẫn giải, hoàn thiện tác phẩm và lưu truyền cho hậu thế.
Bộ gia phả gồm 181 trang chữ Hán, được viết bằng lối chữ chân phương, văn phong chặt chẽ nhưng giàu tính văn chương. Nhiều học giả như Phó bảng Bùi Kỷ và nhà văn, lương y Nguyễn Tử Siêu từng đánh giá cao giá trị học thuật của tác phẩm này.
Điểm đặc biệt là “Lê gia phả ký” không đơn thuần ghi chép thứ bậc các thế hệ trong dòng họ mà được biên soạn như một công trình khảo cứu lịch sử. Nội dung gồm 23 phần, từ văn tế, sơ đồ thế hệ, bản đồ khu mộ tổ đến các bài khảo cứu về nguồn gốc dòng họ và tiểu sử những nhân vật tiêu biểu.
Qua những trang gia phả, nhiều danh nhân của họ Lê ở Bối Khê hiện lên với những đóng góp nổi bật cho quê hương và đất nước. Đó là Quận công Lê Tiến Quý, người từng phụng sự qua năm đời vua; Quận công Lê Đình Thọ, vị tướng được triều đình sắc phong và cho lập miếu thờ sau khi mất; Tổng binh Lê Đình Trân; Tham nghị Lê Huy Cảnh; Hoàng giáp Lê Huy Trâm; Hương cống Lê Huy Thân cùng nhiều nhân vật khác có công trạng đáng ghi nhận.
Một phần đặc sắc khác của tác phẩm là 12 bài thơ “Truy thuật tiên đức thi thập nhị tụng” do hai anh em Hoàng giáp Lê Huy Trâm và Hương cống Lê Huy Thân sáng tác để ca ngợi công đức tổ tiên. Những tác phẩm này không chỉ có giá trị văn học mà còn phản ánh truyền thống hiếu học, trọng đạo lý của dòng họ.
Đáng chú ý, phần “Bản ấp khoa bảng liệt quý tiên sinh” đã ghi lại khá đầy đủ truyền thống khoa bảng của làng Bối Khê. Từ những vị đại khoa nổi tiếng đến các hương cống, tú tài và danh nho của địa phương đều được lưu danh, góp phần tái hiện một vùng đất nổi tiếng về truyền thống học hành và khoa cử.
Có thể nói, “Lê gia phả ký” không chỉ là gia phả của riêng một dòng họ mà còn là kho tư liệu lịch sử quý giá của vùng đất Bối Khê. Qua từng trang sách, người đọc có thể hình dung rõ hơn về lịch sử hình thành và phát triển của một dòng họ lớn, đồng thời hiểu thêm về truyền thống hiếu học, khoa bảng và những đóng góp của các thế hệ người Bối Khê đối với lịch sử dân tộc.
Trong số những di vật quý từng được trưng bày tại Đại nội Huế có tấm bằng Tiến sĩ cấp cho Hoàng giáp Lê Huy Trâm sau khoa thi Kỷ Hợi (1779). Văn bằng do Bộ Lại ban hành năm 1780, xác nhận ông đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân và được ban thưởng theo lệ triều đình. Đặc biệt, đi cùng tấm bằng Tiến sĩ là một đạo sắc phong của vua Lê Hiển Tông ban năm 1781 cho thân phụ ông là Lê Huy Cảnh, khi đó giữ chức Ngoại lang. Đạo sắc ghi nhận công lao giáo dưỡng người con thành tài, đỗ đạt cao trong khoa cử.