xuân

Văn hóa miền Trung - Tây Nguyên trong không gian phát triển mới: Đánh thức 'tài nguyên mềm'

GD&TĐ - Sau sáp nhập đơn vị hành chính tạo ra những chuyển động sâu rộng, không chỉ về tổ chức bộ máy, mà còn trong đời sống văn hóa xã hội.

Khi không gian địa lý được mở rộng, các vùng văn hóa với đặc trưng khác nhau cùng hội tụ, mở ra cơ hội hình thành những không gian văn hóa liên vùng giàu bản sắc.

Liên kết để phát triển

Ghi nhận tại nhiều địa phương như: Đà Nẵng (mới), Lâm Đồng (mới)… cho thấy, các hoạt động văn hóa đã có sự điều chỉnh linh hoạt. Từ việc tổ chức lễ hội, quản lý di sản đến xây dựng thiết chế văn hóa cơ sở đều được rà soát, sắp xếp lại theo hướng phù hợp với quy mô mới.

Không gian văn hóa được mở rộng giúp các địa phương có điều kiện tổ chức sự kiện quy mô lớn hơn, đồng thời kết nối các điểm di sản, tạo thành chuỗi giá trị phục vụ phát triển du lịch.

Tại Lâm Đồng, sau sáp nhập, một không gian văn hóa đa dạng được hình thành với sự hội tụ của 3 vùng đặc trưng: Cao nguyên, đô thị và duyên hải. Ở khu vực cao nguyên, các cộng đồng dân tộc như: Cơ Ho, Mạ, Chu Ru, M’Nông… vẫn gìn giữ những giá trị truyền thống đặc sắc với tiếng cồng chiêng, lễ hội mừng lúa mới, nghề dệt thổ cẩm.

Trong khi đó, đô thị Đà Lạt mang diện mạo hiện đại nhưng vẫn gắn với các danh hiệu quốc tế như Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên hay Khu dự trữ sinh quyển Lang Biang. Khu vực duyên hải lại bổ sung thêm sắc thái văn hóa biển với lễ hội cầu ngư, tín ngưỡng thờ cá Ông và dấu ấn văn hóa Chăm Pa.

Theo ông Nguyễn Văn Lộc, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lâm Đồng, ngay sau sáp nhập, ngành văn hóa xác định rõ bản sắc là “hồn cốt” của vùng đất. “Công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống được đặt vào vị trí trung tâm với nhiều giải pháp đồng bộ như kiểm kê, số hóa di sản; tôn vinh nghệ nhân; hỗ trợ truyền dạy nghề truyền thống… để văn hóa không chỉ được giữ, mà còn được sống trong đời sống hiện đại”, ông Lộc nhấn mạnh.

Tuy nhiên, bên cạnh cơ hội, nhiều thách thức cũng dần lộ diện. Quá trình đô thị hóa và tác động của kinh tế thị trường khiến không ít giá trị truyền thống đứng trước nguy cơ mai một. Sự thiếu hụt lớp nghệ nhân kế cận, hạn chế về nguồn lực đầu tư hay sự thay đổi trong nhận thức của giới trẻ đang đặt ra những bài toán dài hạn. Làm thế nào để văn hóa không bị “hòa tan” mà vẫn phát huy được giá trị trong bối cảnh mới trở thành yêu cầu cấp thiết đối với các địa phương.

bai-1-danh-thuc-tai-nguyen-mem-1.jpg Sinh viên Trường Đại học Sư phạm (Đại học Đà Nẵng) được xem trích đoạn 'Thị Kính – Thị Mầu'.

Định hình công nghiệp văn hóa

Trong bức tranh chung của khu vực, Đà Nẵng đứng trước một “thời điểm vàng” để tái định vị mô hình phát triển. Sau sáp nhập, thành phố không chỉ mở rộng không gian địa lý, mà còn có cơ hội chuyển dịch từ mô hình đô thị du lịch truyền thống sang đô thị sáng tạo, nơi công nghiệp văn hóa đóng vai trò động lực tăng trưởng mới.

Với hệ thống di sản phong phú gồm: Thánh địa Mỹ Sơn, phố cổ Hội An, Khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm, danh thắng Ngũ Hành Sơn hay Ma nhai Ngũ Hành Sơn…, Đà Nẵng có nền tảng quan trọng để phát triển du lịch văn hóa. Những giá trị này đã và đang được bảo tồn, tôn tạo và khai thác hiệu quả, góp phần tạo nên sức hút đặc biệt cho địa phương.

Dù được sắp xếp lại thành các đơn vị hành chính mới, không gian văn hóa Hội An vẫn giữ được tính liên kết và bản sắc riêng. Người dân địa phương vẫn nhấn mạnh thông điệp “3 phường, 1 phố”, với trung tâm là khu phố cổ bên sông Hoài và xã đảo Tân Hiệp nơi có Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm như một “lá phổi xanh” của vùng.

Nhà nghiên cứu Hồ Xuân Tịnh đề xuất, từ các đơn vị sau sắp xếp có thể hình thành một “không gian văn hóa Hội An” thống nhất, kéo dài từ Cù Lao Chàm đến khu phố cổ và các vùng phụ cận.

“Không gian này cần được quản lý đồng bộ từ bảo tồn, tôn tạo đến khai thác giá trị, qua đó nâng cao hiệu quả phát huy di sản”, ông Tịnh cho biết, đồng thời gợi ý xây dựng các chuỗi liên kết di sản, đặc biệt là hệ thống di tích văn hóa Chăm, nhằm gia tăng giá trị trải nghiệm và kết nối vùng.

Ở góc độ công nghiệp văn hóa, nhà nghiên cứu Bùi Văn Tiếng nhìn nhận, Đà Nẵng có lợi thế nổi bật ở bốn lĩnh vực: Điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, thủ công mỹ nghệ và du lịch văn hóa. Thành công của các kỳ liên hoan phim châu Á tại Đà Nẵng hay tiềm năng của các làng nghề truyền thống như mộc Kim Bồng, đá mỹ nghệ Non Nước… là những minh chứng rõ nét.

Đặc biệt, đưa nghệ thuật truyền thống vào trường học đang được xem là hướng đi chiến lược. Theo ông Bùi Văn Tiếng, đây là cách “đào tạo khán giả”, yếu tố cốt lõi để phát triển công nghiệp văn hóa. “Quan trọng nhất của công nghiệp văn hóa là sáng tạo, nhưng để sáng tạo phát triển bền vững thì cần công chúng có khả năng thưởng thức và cảm thụ nghệ thuật. Môi trường học đường chính là nơi làm tốt nhất điều này”, ông Tiếng nhấn mạnh.

bai-1-danh-thuc-tai-nguyen-mem-2.jpg Nghệ sĩ chia sẻ về nghệ thuật tuồng cho sinh viên.

Thực tế tại các trường học ở Đà Nẵng cho thấy, việc đưa tuồng vào giảng dạy mang lại hiệu quả tích cực. Học sinh không chỉ tiếp cận di sản qua sách vở, mà còn trực tiếp trải nghiệm, nhập vai, qua đó hình thành tình yêu với nghệ thuật truyền thống. Từ bậc phổ thông đến đại học, các chương trình giao lưu, trải nghiệm nghệ thuật đang góp phần tạo nên một thế hệ trẻ hiểu và tự hào về văn hóa dân tộc.

Theo ông Nguyễn Thanh Phương, Phó Giám đốc phụ trách Nhà hát Nghệ thuật Truyền thống Đà Nẵng, trong bối cảnh nhiều loại hình giải trí hiện đại phát triển mạnh, tuồng, một loại hình nghệ thuật bác học, gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận khán giả trẻ. Vì vậy, việc đưa tuồng vào trường học là giải pháp quan trọng để tạo dựng lớp công chúng kế cận.

Ở góc độ quản lý, bà Trương Thị Hồng Hạnh, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch TP Đà Nẵng, cho biết thành phố đang lựa chọn những ngành công nghiệp văn hóa có thế mạnh để xây dựng đề án phát triển, đồng thời huy động nguồn lực xã hội hóa, khuyến khích sự tham gia của doanh nghiệp và cộng đồng. “Sự đồng thuận và chung tay của toàn xã hội sẽ tạo ra động lực tăng trưởng mới, đồng thời mang lại giá trị trải nghiệm đặc sắc cho người dân và du khách”, bà Hạnh nhấn mạnh.

Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đặt mục tiêu có 10 ngành công nghiệp văn hóa gồm: Điện ảnh; Mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm; Nghệ thuật biểu diễn; Phần mềm và các trò chơi giải trí; Quảng cáo; Thủ công mỹ nghệ; Du lịch văn hóa; Thiết kế sáng tạo; Truyền hình và phát thanh; Xuất bản. Đến năm 2030, các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP cả nước; Tốc độ tăng trưởng doanh thu: 10%/năm; Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu: 7%/năm; có 5 - 10 thương hiệu uy tín trên thị trường quốc tế.

Bài 2: Tôn trọng và giữ gìn bản sắc