Một đứa trẻ sốt, ho, sổ mũi vài ngày thường được xem là tình trạng quen thuộc mà nhiều gia đình từng trải qua. Nhưng trong một số trường hợp, các triệu chứng này cũng có thể xuất hiện ở người mắc bệnh do phế cầu khuẩn - một trong những tác nhân quan trọng gây nhiều bệnh lý nặng như viêm phổi, viêm màng não hay nhiễm trùng huyết ở trẻ em, để lại gánh nặng không nhỏ cho gia đình và hệ thống y tế.
Theo các chuyên gia, trong bối cảnh dịch tễ học thay đổi, đề kháng kháng sinh gia tăng và mô hình bệnh tật ngày càng phức tạp, việc nâng cao nhận thức cộng đồng trở thành vấn đề được quan tâm nhiều hơn để tạo ra lá chắn phòng ngừa từ sớm, bảo vệ thế hệ tương lai.
Có những ca bệnh khởi đầu chỉ bằng vài triệu chứng thông thường như sốt nhẹ, ho hoặc sổ mũi. Thế nhưng vài ngày sau, trẻ có thể diễn tiến nhanh sang viêm phổi nặng, suy hô hấp, thậm chí tổn thương đa cơ quan do phế cầu khuẩn.
Đây là những thông tin được các chuyên gia chia sẻ trong buổi tọa đàm nâng cao nhận thức về phế cầu khuẩn do Hội Y học Dự phòng Việt Nam và Pfizer Việt Nam vừa tổ chức.

Buổi tọa đàm quy tụ nhiều chuyên gia hàng đầu về nhi khoa và y học dự phòng
"Có những bệnh nếu chúng ta chờ đến khi nhập viện mới quan tâm thì thường đã muộn, hoặc ít nhất là đã phải trả giá bằng rất nhiều lo lắng, chi phí và đôi khi là cả những hậu quả nặng nề cho trẻ", GS.TS.BS Phan Trọng Lân, Viện trưởng Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương, Chủ tịch Hội Y học Dự phòng Việt Nam, chia sẻ tại tọa đàm.
Đáng chú ý, phế cầu khuẩn có thể tồn tại âm thầm trong vùng hầu họng của người khỏe mạnh. Trẻ nhỏ thường là nhóm có tỉ lệ mang vi khuẩn cao nhất. Một nghiên cứu ghi nhận, khoảng 58% trẻ khỏe mạnh dưới 3 tuổi mang phế cầu khuẩn ở vùng hầu họng mà không có triệu chứng bệnh.
Điều này đồng nghĩa nhiều trẻ vẫn khỏe mạnh nhưng có thể góp phần vào quá trình lưu hành và lây truyền phế cầu khuẩn trong cộng đồng.
Theo PGS.TS.BS Phạm Quang Thái, Phó trưởng Khoa Kiểm soát bệnh truyền nhiễm, Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương, trẻ nhỏ vừa là nhóm chịu ảnh hưởng trực tiếp vừa có thể là nguồn mang vi khuẩn trong cộng đồng.
"Do đó, việc phòng ngừa từ sớm không chỉ giúp ngăn ngừa nguy cơ bệnh nặng cho trẻ, mà còn giúp giảm số người mang vi khuẩn trong vùng mũi họng. Nhờ đó, góp phần tạo ra lá chắn miễn dịch để bảo vệ sức khỏe cộng đồng", PGS.TS.BS Phạm Quang Thái nói.
Đừng chủ quan khi trẻ mắc viêm màng não do phế cầu khuẩn
Các số liệu cho thấy gánh nặng của bệnh do phế cầu không chỉ nằm ở số ca mắc mà còn ở hậu quả lâu dài.
Trong một nghiên cứu trên trẻ nhập viện do bệnh phế cầu xâm lấn tại Bệnh viện Nhi Trung ương, khoảng 8,8% trường hợp không qua khỏi.
Viêm màng não do phế cầu một trong những thể bệnh xâm lấn nghiêm trọng và có thể dẫn đến tử vong.
Ngay cả khi vượt qua giai đoạn nguy hiểm, nhiều trẻ vẫn phải đối diện những hệ lụy lâu dài.
Dữ liệu được công bố cho thấy 20-50% trẻ sống sót sau viêm màng não do phế cầu gặp di chứng thần kinh như giảm thính lực, co giật, chậm phát triển trí tuệ hoặc khiếm khuyết vận động.
Theo các bác sĩ điều trị, điều khiến nhiều gia đình bất ngờ là bệnh có thể khởi phát với những biểu hiện ban đầu khó nhận biết.
BS CKII Nguyễn Minh Tiến, Phó Giám đốc Bệnh viện Nhi đồng Thành phố (TPHCM), kể về trường hợp một trẻ khoảng 10-11 tuổi chỉ sốt và ho trong tuần đầu tiên. Gia đình nghĩ trẻ bị cảm cúm thông thường. Tuy nhiên sang tuần thứ hai, tình trạng chuyển nặng nhanh chóng.
Khi nhập viện, trẻ bị viêm phổi nặng kèm tổn thương tim, chức năng co bóp tim giảm mạnh, phải thở máy và sử dụng các biện pháp hồi sức chuyên sâu.
Theo bác sĩ Tiến, chi phí điều trị bệnh không xâm lấn như viêm tai giữa hoặc viêm phổi thông thường có thể chỉ vài trăm nghìn đồng. Nhưng khi bệnh chuyển sang giai đoạn xâm lấn, chi phí điều trị có thể lên tới hàng chục hoặc hàng trăm triệu đồng. Với những trường hợp cần sử dụng kỹ thuật hỗ trợ chuyên sâu như ECMO, chi phí điều trị ban đầu đã lên tới hàng trăm triệu đồng, chưa tính các chi phí phát sinh khác.
Khoảng trống miễn dịch cần được lưu ý
Một thách thức khác được các chuyên gia nhắc đến là tình trạng đề kháng kháng sinh ngày càng gia tăng.
"Nếu trước đây nhiều trường hợp đáp ứng với các kháng sinh thông thường thì hiện nay việc điều trị ngày càng khó khăn hơn", BS Nguyễn Minh Tiến cho biết.
Tình trạng phế cầu kháng một số loại kháng sinh đang đặt ra thách thức trong điều trị, với mức độ đề kháng khác nhau tùy loại kháng sinh, típ huyết thanh.
Việc sử dụng kháng sinh chưa hợp lý trong cộng đồng được xem là một trong những nguyên nhân khiến tình trạng này trở nên đáng lo ngại hơn.
Trong khi đó, bức tranh dịch tễ học của phế cầu cũng liên tục thay đổi. Hiện thế giới ghi nhận hơn 100 típ huyết thanh, nhưng chỉ một số típ gây phần lớn các trường hợp bệnh xâm lấn như nhiễm khuẩn huyết, viêm màng não.
Tại Việt Nam, một số típ như 6A, 6B, 19F, 19A và 23F được ghi nhận trong các nghiên cứu về tình trạng mang phế cầu khuẩn trong vùng hầu họng của trẻ em. Bên cạnh đó, các nghiên cứu cũng cho thấy sự thay đổi về phân bố típ huyết thanh ở các trường hợp bệnh phế cầu xâm lấn. Dữ liệu thống kê tại 10 bệnh viện khắp Việt Nam giai đoạn 2011-2023 ghi nhận sự hiện diện của một số típ huyết thanh như 11A/11D, 15A/15B/15C, 23A.
Sự biến đổi trong bức tranh dịch tễ này khiến giới chuyên môn phải theo dõi sát để điều chỉnh chiến lược dự phòng phù hợp.
Với trẻ dưới 5 tuổi, đặc biệt là trẻ dưới 2 tuổi, phụ huynh cần chú trọng môi trường sống sạch, dinh dưỡng đầy đủ và trao đổi với nhân viên y tế để thực hiện các biện pháp phòng ngừa.
Với trẻ có bệnh nền có nguy cơ cao bị ảnh hưởng do phế cầu khuẩn như hen suyễn, tim mạch, suy giảm miễn dịch, rối loạn bạch cầu…, nhất là khi trẻ bắt đầu đi học hoặc tiếp xúc với môi trường mới, phụ huynh nên rà soát lại các biện pháp bảo vệ đã thực hiện và tham khảo bác sĩ về kế hoạch dự phòng phù hợp cho trẻ.
Bởi với bệnh do phế cầu, nhiều khi điều tạo khác biệt không nằm ở thời điểm trẻ nhập viện, mà ở quyết định bảo vệ sức khỏe được thực hiện từ sớm và phù hợp.
Vĩnh Hoàng
* Nội dung giáo dục sức khỏe do Pfizer Việt Nam thực hiện, được Hội Y học Dự phòng Việt Nam thẩm định độc lập về tính chính xác khoa học và tính phù hợp với bối cảnh Việt Nam. Nội dung chỉ nhằm mục đích giáo dục sức khỏe cộng đồng. Vui lòng tham khảo ý kiến nhân viên y tế để được chẩn đoán hoặc điều trị.
PP-PNR-VNM-0775