xuân

Rút ngắn khoảng cách kỹ năng số cho nhà giáo

GD&TĐ - Thực tế cho thấy có sự chênh lệch kỹ năng số giữa các nhóm giáo viên vùng thuận lợi - khó khăn; giáo viên trẻ - lớn tuổi.

Vì vậy, muốn thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71), việc bồi dưỡng kỹ năng số cho giáo viên phải trở thành chính sách trọng tâm và lâu dài.

Chuyển đổi số phải trở thành bài toán cụ thể

Trường Phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học Tùng Vài (Tuyên Quang) có gần 600 học sinh, trong đó 99% là học sinh dân tộc thiểu số, chủ yếu là người Mông và Dao, sinh sống rải rác ở các thôn, bản xa trường. Nhà trường xác định, chuyển đổi số không chỉ là yêu cầu từ chủ trương chung mà trở thành bài toán cụ thể: Làm thế nào để học sinh vùng biên có thể tiếp cận học tập số, khi thiết bị thiếu, mạng Internet yếu và kỹ năng công nghệ còn nhiều hạn chế.

Bà Giàng Thị Dế – Phó Hiệu trưởng Trường Phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học Tùng Vài nhìn nhận, điểm xuất phát của nhà trường khi đưa các nền tảng học tập số vào giảng dạy không phải thiết bị, mà là con người. Ở ngôi trường mà phần lớn học sinh ở bán trú từ thứ Hai đến thứ Sáu, thầy cô không chỉ dạy trên lớp, mà còn phải theo sát, kèm cặp, tạo nền nếp học tập cho các em.

Nhiều học sinh không có điều kiện học trực tuyến ở nhà vì thiếu thiết bị, nên nhà trường chủ động tổ chức cho các em học ngay tại trường. Ngoài giờ học chính khóa, giáo viên tranh thủ buổi tối để hướng dẫn học sinh đăng nhập, làm bài, xem lại video bài giảng khi chưa hiểu. Không ít thầy cô sẵn sàng cho học sinh mượn thiết bị cá nhân để các em có thể tiếp tục học tập.

Bà Giàng Thị Dế cho hay, khi bắt đầu triển khai, không ít giáo viên băn khoăn vì áp lực thời gian và lo ngại “thêm việc”. Thực tế, nhiều thầy cô lớn tuổi, chưa quen với công nghệ. Vì vậy, nhà trường không triển khai theo kiểu “giao rồi để tự làm”, mà lựa chọn cách đi từng bước cụ thể. Theo đó, nhà trường tổ chức buổi tập huấn, tổ chức hỗ trợ tại chỗ; tận dụng video hướng dẫn, biên soạn lại cho dễ hiểu…

Về phía học sinh, với phòng máy khoảng 35 máy tính, nhà trường tổ chức chia giờ, nhóm để các lớp luân phiên học. Nguyên tắc được đặt ra là học phải có người kèm. Khi mạng Internet yếu, giáo viên linh hoạt sử dụng 4G để duy trì việc học. Học sinh làm chưa đạt được hướng dẫn làm lại đến khi nắm chắc kiến thức, không vì điểm số mà vì hiểu bài.

rut-ngan-khoang-cach-ky-nang-so-1.jpg Học sinh, sinh viên tham gia Cuộc thi HNUE - Sáng tạo robot năm 2025 do Trường Đại học Sư phạm Hà Nội tổ chức. Ảnh: TG

Bồi dưỡng kỹ năng số cho giáo viên

Theo Phó Hiệu trưởng Trường Phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học Tùng Vài, sự xuất hiện của nền tảng học tập số đã làm thay đổi rõ nét vai trò của giáo viên. Thay vì chỉ “dạy xong một tiết”, giáo viên theo sát cả quá trình học của từng học sinh. Dữ liệu tiến độ và kết quả học tập giúp giáo viên nhận diện rõ em nào chưa làm bài, em nào đang gặp khó để kịp thời hỗ trợ. Với học sinh vùng cao, nếu bị hổng kiến thức rất dễ chán nản. Công nghệ, trong trường hợp này, trở thành công cụ giúp giáo viên nhắc nhở đúng lúc, tháo gỡ đúng chỗ, giúp các em tiến bộ từng ngày.

“Điều khiến chúng tôi bất ngờ là sự hào hứng của học sinh khi tiếp cận hình thức học tập mới. Một học sinh người Dao lớp 4 từng học Toán chậm, làm sai nhiều, nhưng nhờ được xem lại video và làm lại bài nhiều lần, em dần tiến bộ và duy trì việc học đều đặn mỗi tháng. Trải nghiệm đó cho thấy, khi được hướng dẫn đúng cách và có cơ hội làm lại, học sinh sẽ tự tin và kiên trì hơn” - bà Giàng Thị Dế ghi nhận và kỳ vọng, về lâu dài học sinh có thể hình thành thói quen tự học và sự tự tin với công nghệ. Việc thường xuyên thao tác trên máy tính, điện thoại giúp các em quen dần với môi trường số, hỗ trợ cả việc học Tin học và tham gia các sân chơi trực tuyến.

Từ thực tiễn ở Tùng Vài có thể thấy, chuyển đổi số ở trường vùng khó không phải câu chuyện của “đủ điều kiện rồi mới làm”, mà là quá trình chủ động triển khai trong điều kiện còn thiếu thốn. Khi thầy, cô không đứng nhìn khó khăn mà chủ động tìm cách tháo gỡ, thì mỗi học sinh đều có thêm cơ hội tiếp cận tri thức, tự tin hơn và từng bước bước vào thế giới học tập số.

Đồng quan điểm, bà Bùi Thị Oanh - Hiệu trưởng Trường THCS Nghĩa Bình (Quỹ Nhất, Ninh Bình) khẳng định, nhà trường luôn lấy học sinh làm trung tâm, đổi mới phương pháp dạy học, tăng cường giáo dục kỹ năng sống, hướng nghiệp và xây dựng môi trường học tập an toàn, thân thiện. Cùng với củng cố chất lượng, nhà trường đang tích cực triển khai chuyển đổi số trong giáo dục và coi đây là giải pháp then chốt trong giai đoạn mới.

Theo bà Bùi Thị Oanh, chuyển đổi số không chỉ là đưa công nghệ vào lớp học mà còn là thay đổi tư duy quản lý, phương pháp giảng dạy và cách học của học sinh: “Chúng tôi tập trung bồi dưỡng kỹ năng số cho giáo viên, giúp các thầy, cô giáo tự tin ứng dụng công nghệ trong giảng dạy. Học sinh cũng được học cách sử dụng Internet an toàn, chủ động tra cứu và tự học mọi lúc, mọi nơi”, bà Bùi Thị Oanh nhấn mạnh.

rut-ngan-khoang-cach-ky-nang-so-3.jpg Phòng tin học của Trường Phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học Tùng Vài. Ảnh: NTCC

Năng lực số trở thành cốt lõi, thiết yếu

Chia sẻ tại tọa đàm do Viện Nghiên cứu cao cấp về Toán và Anbooks, bà Lê Thị Mai Hương - Hiệu trưởng Trường Tiểu học Ban Mai (Hà Nội) nhìn nhận, trí tuệ nhân tạo (AI) đã được đưa vào các trường theo mức độ khác nhau. Từ khi có AI, chênh lệch về năng lực của giáo viên tăng lên rất nhiều. Có những giáo viên sử dụng AI thành thạo và hiệu quả nhưng cũng có người gây lo ngại trong quá trình dự giờ.

Theo bà Lê Thị Mai Hương, ở trường học, AI cần được sử dụng, nhất là với giáo viên, bắt đầu từ việc xây dựng ý tưởng cho đến thiết kế bài; dùng các trò chơi để kiểm tra, đánh giá... Trường Tiểu học Ban Mai đã có 3 - 4 đợt đào tạo để giáo viên có cái nhìn chung và hiểu về AI, học từng phần mềm, ứng dụng, thực hành và có báo cáo...

Vấn đề là sau đó kiểm soát việc giáo viên thực hiện thế nào. Một số giáo viên sẽ quay về dạy truyền thống. Lý do là họ không đủ năng lực công nghệ thông tin để tiếp tục hoặc không có thời gian xây dựng bài giảng, mà thường lấy sẵn và gia công vào đó. Đây là thực tế đáng lo ngại. “Ở vai trò quản lý nhà trường, tôi phải đồng hành với giáo viên. Đồng hành bằng cách thực hành, kiểm tra, kiểm soát hằng ngày”, bà Hương nói.

Ông Sal Khan - nhà sáng lập Khan Academy (Hoa Kỳ) cho rằng, trong kỷ nguyên AI, thách thức lớn nhất của giáo dục không nằm ở việc có hay không có công nghệ, mà ở cách các quốc gia định vị vai trò của con người trong hệ sinh thái số. Theo ông, những quốc gia thành công là những nơi coi AI như công cụ hỗ trợ, mở rộng năng lực của giáo viên và người học, chứ không phải yếu tố thay thế.

rut-ngan-khoang-cach-ky-nang-so-4.jpg Học sinh trải nghiệm tại phòng thực hành giáo dục STEM. Ảnh: ITN

Chính vì vậy, ông Sal Khan đánh giá cao Nghị quyết 71 của Bộ Chính trị. Nghị quyết không chỉ thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện, mà còn đặt ra các yêu cầu rõ ràng về tính nhân văn, an toàn, bảo vệ dữ liệu và phát triển bền vững trong ứng dụng công nghệ vào giáo dục.

Từ kinh nghiệm triển khai Khan Academy tại hơn 190 quốc gia, ông Sal Khan cho rằng, việc Việt Nam lựa chọn công nghệ số, tiếp cận AI bắt đầu từ đội ngũ giáo viên là bước đi hợp lý và có chiều sâu. Theo ông, giáo viên không chỉ là người sử dụng công nghệ, mà còn là lực lượng định hình cách AI được đưa vào lớp học một cách sư phạm, có trách nhiệm và phù hợp với bối cảnh văn hóa - xã hội.

Đây cũng là triết lý xuyên suốt trong quá trình Khan Academy phát triển các công cụ AI hỗ trợ giáo dục, trong đó có Khanmigo - trợ giảng AI được thiết kế nhằm giảm tải công việc hành chính và chuyên môn cho giáo viên, giúp giáo viên có thêm thời gian để sáng tạo và tương tác với học sinh.

Ông Sal Khan cho rằng, việc kết hợp tài nguyên mở với các công cụ AI được thiết kế có trách nhiệm sẽ giúp giáo viên và học sinh sử dụng công nghệ hiệu quả hơn, tránh lệ thuộc và giữ vững vai trò dẫn dắt của con người trong quá trình học tập. Việc Việt Nam lựa chọn triển khai AI theo tinh thần Nghị quyết 71 chủ động nhưng thận trọng, đang tạo ra những tiền đề quan trọng để công nghệ thực sự phục vụ mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục và phát triển con người.

Những năm qua, chuyển đổi số trong giáo dục đã đạt được những kết quả bước đầu đáng khích lệ. Tuy nhiên, ông Vũ Minh Đức - Cục trưởng Cục Nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục (Bộ GD&ĐT) cho rằng, để quá trình này đi vào chiều sâu, thực chất và hiệu quả, cần cách tiếp cận hệ thống; trong đó, phát triển năng lực số cho học sinh, giáo viên được xác định là hai trụ cột nền tảng. Năng lực số không còn là kỹ năng bổ trợ mà trở thành năng lực cốt lõi, thiết yếu cho công dân trong thời đại cách mạng 4.0.

Theo ông Vũ Minh Đức, việc triển khai Khung năng lực số cho học sinh trong các nhà trường giúp định hướng quá trình giáo dục, đánh giá và phát triển kỹ năng số một cách bài bản, phù hợp với từng cấp học. Song song với đó, năng lực số của đội ngũ giáo viên là điều kiện tiên quyết để thực hiện hiệu quả giáo dục số trong nhà trường; nâng cao chất lượng dạy học, cũng như đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong thời đại số.

Từ thực tiễn triển khai chuyển đổi số trong giáo dục, có thể thấy kỹ năng số của đội ngũ giáo viên hiện nay còn tồn tại khoảng cách nhất định giữa các vùng miền, giáo viên trẻ và giáo viên lớn tuổi. Bà Hà Ánh Phượng - Đoàn Đại biểu Quốc hội khóa XV tỉnh Phú Thọ nhận định, đây là thách thức cần được nhìn nhận thẳng thắn nếu chúng ta muốn thực hiện hiệu quả Nghị quyết 71 của Bộ Chính trị.

Theo bà, bồi dưỡng kỹ năng số cho giáo viên cần được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, có tính chiến lược và lâu dài. Trước hết, cần xây dựng chương trình bồi dưỡng theo hướng linh hoạt, phù hợp với đặc thù từng nhóm giáo viên, đặc biệt quan tâm đến giáo viên ở vùng khó khăn, đồng bào dân tộc thiểu số. Việc đào tạo không chỉ dừng ở sử dụng công nghệ, mà cần giúp giáo viên hiểu rõ cách tích hợp công nghệ số vào quá trình dạy học, kiểm tra, đánh giá và quản lý lớp học.

Bên cạnh đó, bà Hà Ánh Phượng cho rằng, cần có cơ chế hỗ trợ đồng bộ về hạ tầng, học liệu số và môi trường học tập trực tuyến, để giáo viên có điều kiện thực hành và nâng cao năng lực một cách thường xuyên. Các địa phương cũng nên phát huy vai trò của đội ngũ giáo viên nòng cốt, hình thành mạng lưới chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình ứng dụng công nghệ.

Quan trọng hơn, việc bồi dưỡng kỹ năng số cho giáo viên cần được xem là một phần của chính sách phát triển đội ngũ nhà giáo trong bối cảnh mới. Khi giáo viên tự tin làm chủ công nghệ, quá trình đổi mới phương pháp dạy học và nâng cao chất lượng giáo dục sẽ có thêm động lực bền vững.

“Chúng tôi giao cho giáo viên dạy Công nghệ quay video hướng dẫn từng thao tác như: Đăng nhập, giao bài, theo dõi tiến độ học tập. Giáo viên nào chưa rõ có thể xem lại video và làm theo. Lớp nào làm tốt sẽ chia sẻ kinh nghiệm để các lớp khác học tập”, bà Giàng Thị Dế chia sẻ.