xuân

Nhà giáo dân tộc thiểu số bắc nhịp cầu tương lai cho trẻ vùng cao

Thắp sáng tình yêu con trẻ

Gắn bó với ngành Giáo dục từ năm 2004, cô Lò Thị Hoa - giáo viên đang công tác tại Trường Mầm non Sao Mai (Chiềng Sinh, Sơn La) có biết bao kỷ niệm đẹp cùng trẻ vùng cao. Cô là người dân tộc Kháng - một trong số những dân tộc thiểu số rất ít người ở Việt Nam. Bằng tình yêu nghề giáo và sự nỗ lực hết mình, cô đã quyết tâm theo học ngành sư phạm để thắp sáng ước mơ cho những đứa trẻ vùng khó.

Công tác giáo dục mầm non tại vùng sâu, xa, đặc biệt khó khăn vốn dĩ vất vả, đối với các cô giáo người dân tộc thiểu số, thử thách còn nhân lên gấp bội. Điểm trường thường nằm cheo leo trên đỉnh núi hoặc sâu trong thung lũng, đường sá hiểm trở, cơ sở vật chất thiếu thốn. Lợi thế lớn nhất của các cô là sự tương đồng về ngôn ngữ và văn hóa; hiểu tập quán dân tộc mình, tâm lý của phụ huynh và quan trọng nhất xóa bỏ được rào cản ngôn ngữ cho trẻ. Với trẻ vùng cao vốn chỉ quen nói tiếng mẹ đẻ, các cô là người “thông ngôn”, dìu dắt các em làm quen tiếng Việt, giúp trẻ tự tin hơn khi bước vào môi trường học đường.

Giai đoạn từ năm 2004 - 2021, cô Lò Thị Hoa công tác tại Trường Mầm non xã Co Mạ (vùng đặc biệt khó khăn thuộc huyện Thuận Châu cũ), tỉnh Sơn La; đến năm 2021 cô chuyển về Trường Mầm non Sao Mai để thuận tiện chăm sóc con khi chồng cô cũng công tác ở vùng cao, xa nhà.

Để nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ, cô Hoa luôn thực hiện nghiêm túc nội quy, quy chế cơ quan, hoàn thành tốt nhiệm vụ nhà trường giao phó, không ngừng nâng cao năng lực chuyên môn, trau dồi kiến thức, nâng cao nghiệp vụ sư phạm, đổi mới phương pháp giảng dạy, ứng dụng công nghệ thông tin, AI trong bài giảng để đem lại hiệu quả cao.

Thay vì chờ đợi những bộ đồ chơi đắt tiền từ miền xuôi, cô đã biến đá cuội, hạt ngô, vỏ trấu, tre nứa thành các bộ học cụ sinh động. Những viên đá được sơn màu thành con số, ống tre đẽo gọt thành nhạc cụ... Điều này không chỉ giúp trẻ phát triển thẩm mỹ, mà còn giáo dục các em lòng yêu thiên nhiên, sự trân trọng những giá trị truyền thống của dân tộc.

Giải pháp “Tăng cường tiếng Việt trên cơ sở tiếng mẹ đẻ” được cô áp dụng linh hoạt. Trong giờ học, cô thường lồng ghép các bài hát, câu đố bằng tiếng dân tộc xen kẽ tiếng Việt. Phương pháp này giúp trẻ tiếp thu kiến thức một cách tự nhiên, không bị áp lực, từ đó phát triển tư duy ngôn ngữ và khả năng nhận thức nhanh chóng.

nha-giao-dan-toc-thieu-so-1.jpg Cô H’Phen Êya và học trò. Ảnh: NVCC

Tất cả vì trẻ thơ

Cô H’Phen Êya - dân tộc M’Nông có 16 năm gắn bó với lớp mẫu giáo 5 - 6 tuổi tại Trường Mầm non Ea T’ling (Cư Jút, Đắk Nông) thuộc địa bàn đặc biệt khó khăn, nơi đa số trẻ thuộc dân tộc thiểu số và trong lớp nhiều em chưa qua lớp mầm chồi, khả năng phát triển ngôn ngữ tiếng Việt hạn chế. Nhiều phụ huynh vì điều kiện mưu sinh nên chưa thực sự quan tâm đúng mức đến việc học tập của con em mình.

Từ thực tế giảng dạy, cô H’Phen Êya có một số kinh nghiệm trong lĩnh vực chuyên môn để phát triển toàn diện cho trẻ. Theo cô, trước hết, cần điều chỉnh phương pháp giáo dục phù hợp. Với đặc điểm trẻ dân tộc thiểu số 5 - 6 tuổi thường gặp khó khăn về ngôn ngữ, kỹ năng giao tiếp và khả năng thích nghi môi trường học tập. Do đó, khi lên lớp giáo viên không thể dạy theo khuôn mẫu chung mà phải dạy thật chậm, nội dung được lặp lại nhiều lần, tăng cường hoạt động trải nghiệm, học thông qua hoạt động trò chơi và hạn chế tạo áp lực nhằm giúp trẻ mạnh dạn hơn, tự tin và sẵn sàng tiếp nhận kiến thức trọn vẹn nhất.

Tiếng Việt là nền tảng để trẻ học tập và hòa nhập trong cộng đồng, do đó, giáo viên cần tăng cường lồng ghép tiếng Việt trong tất cả hoạt động sinh hoạt hàng ngày như: Ăn, ngủ, chơi, vệ sinh; Mặt khác luôn sử dụng các câu ngắn gọn, dễ hiểu kết hợp tranh ảnh, đồ dùng trực quan và quan trọng khuyến khích trẻ nói, không chê trách khi nói sai để các em tiếp tục cố gắng.

Đặc biệt, cần tăng cường rèn kỹ năng sống và xã hội cho trẻ. Nhiều trẻ còn thụ động, lo sợ thiếu kỹ năng tự phục vụ (ăn, ngủ, cất dọn đồ dùng...) do đó, cô luôn chú trọng rèn trẻ biết tự chăm sóc bản thân, hợp tác với bạn bè, chào hỏi lễ phép và khi trẻ có kỹ năng sống tốt thì việc học tập, hòa nhập sẽ thuận lợi hơn.

Trong bối cảnh phụ huynh chưa dành nhiều thời gian cho con thì cô giáo mầm non chính là người gần gũi và hiểu trẻ nhất. Sự quan tâm, kiên nhẫn yêu thương sẽ giúp trẻ cảm thấy an toàn, được tôn trọng, có động lực khi đến lớp.

Khi trao đổi với phụ huynh, cô giáo không nên áp đặt mà cần trao đổi ngắn gọn, dễ hiểu vào các hoạt động, giờ đón và trả trẻ hoặc trao đổi riêng. Cô cũng cần tập trung vào những vấn đề cần thiết như động viên cho trẻ đi học, chuyên cần, ăn uống đủ bữa, giữ gìn vệ sinh cá nhân khi trẻ ở nhà và lớp để phụ huynh cảm nhận được sự tôn trọng, từ đó sẽ hợp tác tốt hơn với giáo viên.

“Chúng tôi xây dựng môi trường giáo dục thân thiện gần gũi với văn hóa địa phương. Việc tận dụng những nguyên vật liệu có sẵn và lồng ghép trò chơi dân gian của người dân tộc thiểu số có yêu tố văn hóa trong các hoạt động trải nghiệm, vui chơi giúp trẻ cảm thấy quen thuộc và hứng thú, tích cực tham gia vào hoạt động học tập”, cô H’Phen Êya tâm sự.

Các cô giáo mầm non người dân tộc thiểu số, vượt lên mọi khó khăn, miệt mài dạy trẻ những con chữ đầu đời là những hình ảnh đẹp đẽ, minh chứng cho tinh thần “tất cả vì học sinh thân yêu”. Họ là những người gieo hạt giống tri thức tới trẻ vùng cao. Sự tận tâm, sáng tạo của các cô không chỉ giúp trẻ phát triển toàn diện về Đức - Trí - Thể - Mỹ, mà còn góp phần quan trọng vào việc giữ gìn bản sắc văn hóa, thúc đẩy sự phát triển bền vững của vùng đồng bào dân tộc thiểu số.