Cùng Báo Giáo dục & Thời đại trò chuyện với người thầy giỏi nghề, say mê sáng tạo này.
Trò thành công, thầy hạnh phúc
- Thầy đã bén duyên với sự nghiệp trồng người như thế nào?
Nhà giáo, nhà thơ Nguyễn Như Hạo: Thời tôi, tuy chiến tranh ác liệt, kinh tế còn nhiều khó khăn nhưng Bộ GD&ĐT luôn chăm lo việc dạy của thầy, việc học của trò bằng cách xây dựng mỗi đơn vị một tủ sách mang tên Nguyễn Tất Thành.
Từ năm 1970, tôi đã được đọc cuốn “Thời sự phổ thông”. Trong đó, Chế Lan Viên viết: “Mỗi giáo viên cấp hai (THCS) cần đọc từ 160 đến 180 cuốn sách mỗi năm, bất kể dày mỏng. Và trên thế giới, mỗi phút có tới 60 phát minh lớn nhỏ”. Con số ấy nhân lên một giờ, một ngày thì quả là hằng hà sa số. Hai thông tin ấy thôi thúc tôi đọc miệt mài rồi ghi chép lại những điều cần thiết. Nhờ đó mà chữ nghĩa dày dần lên.
Những năm đầu công tác, tôi dạy tại trường cấp hai Phương Sơn, huyện Lục Nam (Hà Bắc cũ). Nhớ cái ngày mới ra trường, chân ướt chân ráo, tôi được đón cả tổ Khoa học Xã hội dự giờ bài “Cuộn dây thừng bện bằng tóc”, lớp 6 cũ. Mỗi tiết bốn mươi lăm phút mà tôi giảng có hai mươi phút là hết vốn, không biết nói gì nữa. Tôi đành đi xuống phía cuối lớp, nơi các thầy cô ngồi dự, ghé sát vào thầy Phạm Thái, tổ trưởng: “Em giảng hết rồi!”. Thầy cười: “Thì nghỉ! Cho lớp tự quản!”. Xấu hổ quá, bạn ạ (cười)! Giờ nghĩ lại vẫn còn ngượng chín mặt. Thật may, Hiệu trưởng trường tôi lúc đó là cô Nguyễn Thùy Hương - một người vững vàng kiến thức Văn học. Cô say sưa chuyên môn và luôn khuyến khích, động viên tôi. Tổ trưởng tổ Văn của tôi là thầy Phạm Thái, người Diễn Châu (Nghệ An). Thầy đứng trên bục giảng bài, tôi nuốt từng con chữ. Trong mắt tôi, thầy luôn là thần tượng.
Và những buổi chiều xa nhà, tôi thường ra dốc Sàn, trên Quốc lộ 13, hình ảnh người lính rầm rập hành quân ra thị xã Bắc Giang để lên tàu vào phương Nam là bao tâm sự khác nhau. Bởi thế, mỗi trang đọc, mỗi thầy cô, mỗi người lính, mỗi tiết dạy và biết bao nỗ lực khác mới thành ra tôi bây giờ.
- Thầy có thể hé mở về hành trình trở thành “huấn luyện viên” dẫn dắt đội tuyển quốc gia môn Văn cấp 2 (bậc THCS) ngày ấy?
Quả là, không thể không nhọc nhằn, không thách thức, nhưng cũng lại rất may.
Năm 1971, tôi được về xuôi, bắt đầu một hành trình mới tại ngôi trường cấp hai Minh Tân. Với cương vị tổ trưởng chuyên môn, tôi tham gia dạy học sinh giỏi của trường, liên tục có học sinh giỏi cấp huyện. Nhờ kết quả ấy, tôi được điều lên công tác tại Trường Bồi dưỡng Giáo dục huyện Gia Lương (Bồi dưỡng giáo viên và học sinh). Dần dà, tôi được đề bạt làm Phó Hiệu trưởng nhà trường
Thật may, đội tuyển học sinh giỏi môn Văn huyện Gia Lương nhiều lần đoạt giải cao, cấp tỉnh. Tình cờ, năm 1986, tôi nhận được công văn trưng tập của Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Bắc về việc tham gia dạy ôn đội tuyển học sinh giỏi quốc gia môn Văn cấp hai. Địa điểm dạy ôn đặt tại trường cấp hai Quảng Minh, huyện Việt Yên, cách thị xã Bắc Giang khoảng mười cây số. Thật vui. Thật ngỡ ngàng. Nhưng cũng thật lo lắng làm sao đáp ứng được nhiệm vụ được giao.
Ngày thứ hai đầu tuần ở Quảng Minh, phụ huynh đưa con lên. Tôi dạy tiết đầu tiên là phần Văn học dân gian trong bài “Khái quát văn học Việt Nam”. Hầu hết phụ huynh đứng ngoài cửa sổ nghe… và chờ đợi. Dứt tiếng trống tan lớp, tôi ra khỏi phòng học, một bác (tôi ngỡ là phụ huynh) mặc áo bốn túi, bình dị đến bắt tay và nói với tôi: “Tôi cảm nhận được bài giảng của thầy. Tôi rất tin vào khả năng ấy”. Tôi nhìn bác và trả lời: “Thưa vâng”. Bác hỏi tôi: “Thầy thấy chất lượng đội tuyển năm nay ra sao?”. Tôi trả lời: “Khả dĩ”. Bác lại hỏi: “Sao thầy có nhận xét thế?”. Tôi nói tiếp: “Mắt các cháu sáng lắm”
Đúng lúc ấy, tôi có học sinh hỏi bài. Khi đáp lời học sinh xong, tôi về phòng dành cho giáo viên ôn đội tuyển. Thầy Thân, Phó Trưởng phòng phổ thông, người trực tiếp chỉ đạo công tác bồi dưỡng học sinh giỏi cấp quốc gia, giới thiệu với tôi: “Thầy Như Hạo ạ, đây là thầy Ngô Luật, Giám đốc Sở GD&ĐT”. Rồi thầy Thân quay sang phía thầy Ngô Luật giới thiệu: “Thưa Giám đốc, đây là thầy Nguyễn Như Hạo, quê Gia Lương, người có nhiều năm đóng góp cho phong trào bồi dưỡng học sinh giỏi cấp tỉnh. Năm nay, Sở trưng tập thầy tham gia bồi dưỡng đội tuyển quốc gia”.
Tôi giật mình quay sang thầy Ngô Luật như để xin lỗi. Thầy chính là người mà vừa lúc trước tôi ngỡ là phụ huynh. Thầy cười như một sự chia sẻ: “Công việc của các thầy còn có trách nhiệm của Sở nữa”. Rồi thầy Ngô Luật nói với thầy Thân như là nói cả với tôi: “Nhớ thường xuyên chăm sóc đội ngũ giáo viên và đội tuyển. Tôi rất tin ở các thầy trẻ”. Câu chuyện từ đấy trở nên gần gũi hơn bên tuần trà thơm. Thầy Ngô Luật thân tình bắt tay tôi lần nữa trước khi về Sở. Tôi nhìn theo chiếc áo sờn vai dần xa trên chiếc xe đạp lốp đã mòn đi nhiều. Trời nắng rực. Lòng tôi cũng rực một nỗi niềm…
Và năm đó, tỉnh Hà Bắc đoạt giải cao nhất trong kỳ thi học sinh giỏi môn Văn cấp quốc gia, bậc THCS. Trò thành công, thầy hạnh phúc, đó là đặc thù của nghề giáo. Thật bõ công!
Nhà thơ Hữu Thỉnh và nhà giáo, nhà thơ Nguyễn Như Hạo (phải). Ảnh: NVCC.
Không ngừng làm mới mình
- Kỷ niệm sâu sắc nhất trong sự nghiệp trồng người của thầy là gì?
Hôm ấy, trường tôi nhận được thông báo có Đoàn của Vụ Giáo dục Phổ thông, Bộ GD&ĐT thăm và giúp huyện về phương pháp giảng dạy. Trong đoàn có Phó Tiến sĩ, Vũ Nho. Thầy Vũ Nho đặt vấn đề muốn dự giờ giảng của tôi. Tôi báo cáo với trưởng phòng (đồng thời là Hiệu trưởng): “Hôm nay, em không có giờ”. Thầy hỏi nhỏ tôi: “Có cách nào không?”. Tôi nói: “Có cách. Em xin phép được chuẩn bị mười lăm phút”. Khoảng thời gian ngắn ngủi ấy, tôi có chút hồi hộp, có chút phấp phỏng nhưng cơ bản vẫn giữ được bình tĩnh, tự tin. Vào lớp, tôi giới thiệu thầy với học trò: “Hôm nay, thầy Vũ Nho, chuyên viên môn Văn toàn quốc về dự giờ”.
Sau tiếng vỗ tay chào mừng của các em, tôi dạy bài “Đi đi em” trong tập thơ “Từ ấy” (Tố Hữu) theo phương pháp phát huy trí lực học sinh. Bài thơ viết từ câu chuyện có thực về cuộc đời tủi nhục của cậu bé nghèo khổ tên Phước trước sự hắt hủi, độc ác của nhà chủ: Những trận đòn, những mắng chửi; đỉnh điểm là đuổi Phước đi. “Đi đi em” như lời giục giã em hãy dứt khoát đi, hãy nuôi chí lớn mà tự giải phóng mình. Toàn bộ bài thơ, trong từng câu chữ là sự đồng cảm, xót thương của tác giả dành cho phận đời, phận người ngang trái, éo le.
Khi đã triển khai những nội dung, hoạt động cần thiết của giờ giảng theo phương pháp phát huy trí lực học sinh, tôi đặt câu hỏi liên hệ cuộc sống: “Sau khi bị đuổi ra khỏi nhà chủ, em hình dung bé Phước đáng thương ấy, tối nay ăn ở đâu, đêm nay em ngủ ở đâu?”. Một khoảnh khắc trôi qua. Những cánh tay đưa lên. Những trả lời bung ra. Có em nói Phước sẽ đi bụi. Có em nói Phước sẽ ra gầm cầu. Có em nói Phước sẽ đi ở cho nhà khác… Tôi lắng nghe các em rồi khái quát, định hướng: “Thầy trân trọng câu trả lời của các bạn. Thầy cám ơn sự sáng tạo của các bạn. Trong con mắt của thầy, thầy thấy Phước đi trong đoàn quân phá kho thóc Nhật chia cho dân nghèo. Thầy còn thấy Phước cầm cờ đi cướp chính quyền trong Cách mạng tháng Tám. Và trước mắt thầy là hàng trăm, hàng ngàn bé Phước trên mọi miền Tổ quốc, mọi nẻo đường, cùng cả dân tộc đứng lên làm một Việt Nam dân chủ cộng hòa, nhà nước đầu tiên trên bán đảo Đông Dương tăm tối. Đó là sức mạnh quật khởi của dân tộc. Đó còn là sứ mệnh của thơ ca”.
Từ trên bục giảng, tôi thấy Phó Tiến sĩ Vũ Nho lặng lẽ nhìn ra cửa sổ, lặng lẽ cầm khăn thấm mắt. Nước mắt của người đàn ông. Nước mắt của người đứng tuổi. Nước mắt của người chỉ đạo Văn toàn quốc. Có lẽ, tôi đã chạm được vào trái tim thầy.
Giờ học kết thúc trong tiếng vỗ tay vang rền. Tôi cảm ơn thầy Vũ Nho đã về dự và động viên đội tuyển. Tôi cảm ơn các em đã xây dựng tiết học thành công trong không khí sôi nổi, hạnh phúc. Nhờ tiết dạy ấy, tôi tự tin hơn, đóng góp được nhiều hơn cho trường, cho ngành. Tôi nhận ra nhiều điều về quản lý giáo dục. Từ ấy đến giờ, tôi vẫn giữ nguyên tình đồng nghiệp ấm áp với thầy Vũ Nho.
- Công việc giảng dạy Văn học hỗ trợ thầy thế nào khi tham gia sáng tác và biên tập thơ?
Học Văn, dạy Văn không thể không nạp vào mình vốn từ ngữ sinh động; vốn nghiên cứu phê bình, vốn sống, vốn trải nghiệm phong phú… Tôi viết thơ theo lối của riêng mình, riêng trong hành văn, chọn chữ, chọn cấu tứ. Cho đến nay, tôi in ba tập: “Gọi bầy” (2004), “Phía phù sa” (2010), “Chọn mùa gieo hạt” (2018). Số lượng chưa nhiều nhưng tôi tự hài lòng khi bản thân từng vài lần nhận giải cao văn học cấp tỉnh. Năm 2009, tôi vinh dự được tham gia trại sáng tác ở Đồng Mô, do Liên hiệp các hội VHNT tổ chức hướng tới Đại lễ nghìn năm Thăng Long - Hà Nội.
Năm 2010, đúng ngày thơ Việt Nam, một thầy giáo Trường năng khiếu THCS Hàn Thuyên tham quan Hà Nội cùng đồng nghiệp và học trò. Thầy giáo gọi điện cho tôi trong cảm xúc rộn ràng: “Ông ơi, thơ ông này!”. Tôi ngạc nhiên hỏi: “Ở đâu?”. Thầy giáo trả lời gọn: “Quốc Tử Giám!”. Tôi lại hỏi: “Bài gì?”. “Lời của Cám sau cuộc Tấm Cám!” Ngay lập tức, thầy giáo chụp bài thơ gửi cho tôi kèm dòng nhắn: “Thế là ông “đăng quang” rồi”. Biết thơ mình được treo trang trọng nơi linh thiêng chào mừng Đại lễ của đất nước, tôi không tin được trong niềm vui khôn xiết!
Cũng như dạy học, làm thơ cần sự phát hiện, trao đổi, trải nghiệm… để không ngừng làm mới mình. Năm 2012, tôi có cuộc gặp gỡ tình cờ với nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam. Hôm ấy, tại thị trấn Thịnh Long (Hải Hậu, Nam Định), chúng tôi háo hức chờ anh phát biểu bế mạc trại sáng tác Liên hiệp Đồng bằng Bắc Bộ.
Chưa đến giờ hội nghị, tình cờ một người dáng cao, trán rộng vồn vã vẫy mời tôi cùng ăn sáng. Tôi hiếu kỳ về một người lạ như quen. Tôi tiến lại, ngồi xuống rồi miên man nói chuyện với anh về việc đánh giá cao thơ ca chống Mỹ, nhất là trường ca. Tôi say sưa khi nói về “Từ chiến hào tới thành phố” (Hữu Thỉnh). Tôi đọc như nhập hồn mình: “Một mình một mâm cơm/ Ngồi bên nào cũng lệch/ Chị chôn tuổi xuân trong má lúm đồng tiền…”. Ta phải đổi hai mươi năm máu đổ mới có ngày hòa bình, đoàn tụ. Tôi sang “Trường ca Biển”. Tôi đọc vang lên ba câu thơ: “Con xin lại bắt đầu bằng lời ru trong suốt/ Ra sông lấy sóng mà yêu/ Đường xa gặp núi lấy đèo mà tin”. Anh vỗ đùi, cười xòa: “Thơ Thỉnh đấy, Hạo không biết Thỉnh à?”. Chưa dứt, tôi còn miên man nói về con số một trong thơ hiện đại. Chưa bao giờ chữ “Một” trong văn chương lại được xác lập hay đến lạ lùng. Tôi đọc những vần thơ chứa số từ ấy. Tôi bắt đầu với: “Lòng ta chung một cụ Hồ/ Lòng ta chung một Thủ đô/ Lòng ta chung một cơ đồ Việt Nam” (Ta đi tới, Tố Hữu)! Tôi dừng lại rất lâu ở: “Năm anh em trên một chiếc xe tăng/ Như năm bông hoa nở cùng một cội/ Như năm ngón tay trên một bàn tay/ Đã xung trận cả năm người như một” (Trên một chiếc xe tăng, Hữu Thỉnh). Thì từ “Một” thật là linh diệu, âm vang tạo sự đoàn kết chặt chẽ của cả một dân tộc anh hùng ra trận. Với tôi, đó là kỉ niệm mãi nhớ!
Về việc biên tập thơ, thật chẳng bao giờ tôi lại nghĩ mình có thể… Nhưng đời là một chuỗi cơ duyên. Từ năm 2008 đến nay, tôi tham gia biên tập mảng thơ cho tạp chí VHNT tỉnh nhà. Trên bàn biên tập, có kỉ niệm không quên, có kỉ niệm không ngờ. Tất cả đều là quà tặng giúp tôi trưởng thành hơn, vững vàng hơn trong cách ứng xử, tình đời, tình người.
- Trân trọng cảm ơn thầy!