Từ vùng đầm lầy bên sông Cầu Giao, làng Si (Nhân Lý) đã vươn lên trở thành một trong những làng khoa bảng bậc nhất xứ Đông, xứng danh với câu ca: “một giỏ Sinh đồ, một bồ ông Cống, một đống ông Nghè”.
Theo ghi chép lịch sử, làng Nhân Lý, còn gọi là làng Si, hình thành khoảng thế kỷ 10. Dòng họ đầu tiên đến khai phá là họ Kiều, trong đó có cụ Kiều Thúc Ngữ - vị tướng dưới triều nhà Đinh. Sau đó, nhiều dòng họ khác như Lê, Lương, Phạm, Nguyễn Hữu, Nguyễn Văn, Nguyễn Xuân, Đặng Huy… lần lượt về lập nghiệp.
Qua nhiều thế hệ, cư dân nơi đây đã cải tạo vùng rừng rậm, đầm lầy hoang sơ thành vùng cư trú trù phú, gắn bó mật thiết với nông nghiệp, trồng dâu nuôi tằm, dệt lụa…
Ngôi làng “cá chép trong hồ đầy”
11 Tiến sĩ làng Nhân Lý là những tấm gương sáng về đạo học, đạo làm người và đạo làm quan.
Theo truyền thuyết, khi khai phá, vùng đất Nhân Lý còn hoang vu, rừng rậm um tùm, thậm chí có cả hổ dữ. Cây cối mọc dày trên nền đầm lầy giàu phù sa, với hệ thống lạch chằng chịt, uốn lượn quanh co. Bao quanh khu vực là các gò, đống chạy dài theo hướng Đông - Tây, án ngữ sông Cầu Giao chảy theo trục Bắc - Nam. Trong điều kiện này, tổ tiên cư dân Nhân Lý chọn sinh sống trên các gò cao và xây dựng tới 12 cây cầu đá để thuận tiện đi lại.
Với địa thế đặc biệt, người xưa từng ví làng Nhân Lý như “con cá chép trong hồ đầy”. Chính điều kiện ấy hun đúc tinh thần kiên cường, khả năng vượt khó và khát vọng vươn lên qua con đường học vấn của người dân nơi đây. Tên chữ “Nhân Lý” cũng mang ý nghĩa sâu sắc: “Nhân” tượng trưng cho nhân nghĩa, “Lý” nghĩa là làng - ngụ ý về một cộng đồng đoàn kết, gắn bó, sống theo lễ nghĩa và trân trọng việc học.
Làng Nhân Lý xưa là kết quả hợp nhất của hai trang Đào và Si, thuộc huyện Thanh Lâm, phủ Nam Sách, lộ Đông Hải. Cuối thời Lê và đầu thời Nguyễn, xã Nhân Lý trực thuộc tổng An Lương, huyện Thanh Lâm, phủ Nam Sách, trấn Hải Dương (nay thuộc xã Nam Sách, thành phố Hải Phòng). Năm Minh Mạng thứ 12 (1831), trấn Hải Dương được nâng thành tỉnh. Từ năm Tự Đức thứ 5 (1852), huyện Thanh Lâm được phủ Nam Sách kiêm nhiệm, điều chỉnh cơ cấu hành chính vùng.
Năm 1918, triều đình Khải Định ban hành quy định bãi bỏ các huyện kiêm lý trực thuộc phủ, khiến huyện Thanh Lâm chính thức chấm dứt tồn tại; các làng, xã trước đây thuộc huyện này được trực tiếp quản lý bởi phủ Nam Sách. Đến tháng 4/1946, xã Nhân Lý được sáp nhập với các xã Vạn Niên và Nhân Hưng để thành lập một xã mới mang tên Thanh Lâm, trùng với tên xã cũ.
Ngày 26/8/1989, Hội đồng Bộ trưởng ra quyết định thành lập thị trấn Nam Sách trên cơ sở giải thể xã Thanh Lâm. Hiện nay, vùng đất Nhân Lý thuộc khu dân cư Nhân Đào, xã Nam Sách, thành phố Hải Phòng.
Trong lịch sử khoa cử Việt Nam, làng Nhân Lý nổi bật với truyền thống hiếu học, sản sinh ra 11 vị đại khoa tiêu biểu như Nguyễn Minh Bích, Phạm Bá Khuê, Nguyễn Thế Khải, Phạm Bá Dương, Phạm Hưng Nhân, Nguyễn Hoản, Phạm Như Trung…
Đây là ngôi làng có số lượng Tiến sĩ nhiều nhất huyện Nam Sách xưa. Nhân Lý từng được mệnh danh là “một giỏ Sinh đồ, một bồ ông Cống, một đống ông Nghè, một bè Tiến sĩ, một bị Trạng nguyên, một thuyền Bảng nhãn”.
Nối tiếp ghi danh bảng vàng
Đặc biệt, dòng họ Phạm tại làng Nhân Lý chiếm tới 8 trên 11 vị đại khoa, trong đó có gia đình Phạm Bá Khuê với ba đời liên tiếp đỗ đại khoa. Dòng họ Nguyễn Văn có hai vị Tiến sĩ là Nguyễn Hoản và Nguyễn Minh Bích, trong khi dòng họ Nguyễn Thế có một vị Tiến sĩ là Nguyễn Thế Khải. Số lượng Tiến sĩ của Nhân Lý là minh chứng rõ nét cho truyền thống hiếu học được gìn giữ và phát huy mạnh mẽ trong từng dòng họ, từng gia đình.
Theo đăng khoa lục, người đầu tiên của Nhân Lý đỗ đại khoa là Phạm Như Trung (1413 - ?) với danh hiệu Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân trong khoa thi Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo thứ 3 (1442), khi ông 30 tuổi. Ông từng làm quan đến chức Đông các hiệu thư.
Tiếp đó, Phạm Bá Khuê (1419 - ?) đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) trong khoa thi Quý Dậu, niên hiệu Thái Hòa 11 (1453). Ông làm quan đến chức Thị lang và được triều đình cử đi sứ nhà Minh vào năm 1464. Phạm Bá Khuê là ông nội của Phạm Bá Dương và là viễn tổ của các Tiến sĩ Phạm Hưng Nhân, Phạm Khắc Minh, Phạm Minh Tuấn, khẳng định vai trò nền móng của ông trong truyền thống hiếu học lâu đời của dòng họ Phạm tại làng Nhân Lý.
Phạm Bá Dương (1470 - ?) đỗ Hội nguyên, Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân trong khoa Quý Sửu, niên hiệu Hồng Đức 24 (1493), khi ông 24 tuổi, làm quan tới chức Tham chính. Phạm Bá Dương là cháu nội của Tiến sĩ Phạm Bá Khuê, là bác của Phạm Hưng Nhân, ông nội của Phạm Khắc Minh, đồng thời là tằng tổ của Phạm Văn Tuấn.
Phạm Hưng Nhân đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân vào khoa Quý Mùi, niên hiệu Thống Nguyên 2 (1523), khi ông 26 tuổi, làm quan tới chức Tham chính. Phạm Công Sâm (1504 - ?) đỗ Đệ nhất giáp đồng Tiến sĩ cập đệ nhị danh (Bảng nhãn) vào khoa Tân Sửu, đời Mạc Phúc Hải, niên hiệu Quảng Hòa 1 (1541), khi ông 38 tuổi, làm quan tới chức Thừa chính sứ.
Phạm Khắc Minh (1545 - ?) đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân vào khoa Canh Thìn, niên hiệu Diên Thành 3 (1580), khi ông 36 tuổi. Ông làm quan tới chức Thượng thư, được phong tước hầu. Phạm Khắc Minh là bác của Tiến sĩ Phạm Văn Tuấn và là ông nội của Phạm Văn Khuê.
Phạm Minh Tuấn (1564 - ?) đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân vào khoa Canh Tuất, đời Lê Kính Tông, niên hiệu Hoằng Định 11 (1610), khi ông 47 tuổi, làm quan tới chức Hàn lâm viện hiệu thảo. Phạm Minh Tuấn là cháu nội của Tiến sĩ Phạm Khắc Minh và là ông nội của Phạm Văn Tuấn.
Phạm Văn Tuấn (1598 - ?) đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân vào khoa Bính Tuất, niên hiệu Phúc Thái 4 (1646), khi ông 49 tuổi, làm quan tới chức Giám sát. Phạm Văn Tuấn là cháu nội của Phạm Khuê, đồng thời là cháu họ của Phạm Khắc Minh và viễn tôn của Phạm Hưng Nhân – tất cả đều là các Tiến sĩ, tiếp nối truyền thống khoa cử lừng danh của dòng họ Phạm tại làng Nhân Lý.
Dòng họ Nguyễn Văn tại làng Nhân Lý có hai vị Tiến sĩ tiêu biểu là Nguyễn Hoản (còn gọi là Nguyễn Hoãn) và Nguyễn Minh Bích. Nguyễn Hoản đỗ Hoàng giáp vào khoa Quý Sửu, niên hiệu Hồng Đức 24 (1493), và làm quan tới chức Hàn lâm viện Hiệu lý. Trong “Toàn Việt thi lục”, dưới dạng họa lại tác phẩm “Quỳnh Uyển Cửu Ca” của vua Lê Thánh Tông, Nguyễn Hoản được ghi nhận có ba bài thơ, thể hiện tài năng văn chương xuất sắc cùng uy danh khoa cử của dòng họ Nguyễn Văn.
Bên cạnh đó, dòng họ Nguyễn Thế có một vị Tiến sĩ tiêu biểu là Nguyễn Thế Khải, đồng thời cũng là vị Tiến sĩ cuối cùng trong số 11 vị Tiến sĩ danh tiếng của làng Nhân Lý. Ngoài 11 vị đại khoa, theo ghi chép từ bia ký và gia phả, làng Nhân Lý còn có 34 người đỗ Trung khoa và Tiểu khoa, bao gồm Hương cống, Cử nhân, Sinh đồ, Tú tài.
Văn bia Tiến sĩ khoa Nhâm Tuất (1442) - tấm bia đầu tiên trong 82 bia Tiến sĩ - ghi danh Phạm Như Trung, người Nhân Lý đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân.
Linh khí làng Si, Thành hoàng dũng tướng
Đến nay, làng Nhân Lý còn bảo lưu ngôi đình bề thế, tọa lạc ở phía Tây Bắc làng, được xây dựng từ thời Lê. Theo ghi chép, đình khởi dựng từ thế kỷ 13 với quy mô ban đầu chỉ gồm 3 gian, dài 12m, rộng 7m.
Năm 1696, bô lão và nhân dân làng cùng góp công, góp của để xây tòa Đại Bái nối với hậu cung. Việc khởi công xây dựng tòa Đại Bái bắt đầu từ năm 1704 và phải đến năm 1713 (Vĩnh Thịnh thứ 9, đời Lê Hy Tông) mới hoàn thành. Tòa Tiền sảnh sau này được xây dựng xong vào năm 1754, dưới thời Lê Cảnh Hưng thứ 15.
Tòa Đại Bái đình Nhân Lý có dáng dấp vững chắc, tạo nên vẻ uy nghi cho công trình. Các hàng cột lim có đường kính từ 50 đến 55cm, thể hiện sự bền chắc trong kiến trúc. Đình được xây dựng theo phong cách kiến trúc thời Lý - Trần, với các hình Long, Ly, Phượng trang trí trên nóc. Trong đó, Ly - Phượng chầu nguyệt mang dáng vẻ thanh nhã, uyển chuyển và đẹp mắt.
Phần mộc của đình được chạm trổ tinh xảo với các họa tiết Long quần, Long mã, Hà mã sống động. Các con độn, xà ngang, đầu dư, xà chéo được điêu khắc công phu với hình Long, Ly, Lân, Sóc, Diệp Vân, tôm, trúc… Đây là những mảng điêu khắc gỗ đặc sắc, thể hiện tinh hoa nghệ thuật Lý – Trần, với các lối hoa văn như Long, Ly, Thử quân vận… mang giá trị thẩm mỹ và nghệ thuật cao.
Với giá trị lịch sử và kiến trúc cổ, đình Nhân Lý đã được Nhà nước công nhận là danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử theo Nghị định số 519-TTg ngày 29/10/1957. Ngày 13/7/1990, Bộ VH,TT&DL tiếp tục cấp bằng công nhận đình Nhân Lý là di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia, khẳng định tầm quan trọng và giá trị lâu đời của công trình này.
Đình Nhân Lý thờ đức thành hoàng Đào Tuấn Lương. Theo giai thoại dân gian, Đào Tuấn Lương thông hiểu kinh sử và tinh thông võ nghệ, là một vị dũng tướng từng phò tá Lý Nam Đế - người sáng lập nước Vạn Xuân đánh bại quân xâm lược nhà Lương vào thế kỷ 6.
Với những chiến công hiển hách, ông được phong tước Sùng Văn Mậu Công, Đương Cảnh thành hoàng, Thượng đẳng Phúc thần Đại Vương và được phối thờ tại nhiều nơi như Lang Khê, Đồng Khê và Bạch Đa. Trong đó, đình Nhân Lý là nơi thờ tự chính, ghi dấu vai trò linh thiêng và tôn vinh công lao của ông.
Lễ hội làng Nhân Lý diễn ra vào ngày 10/2 âm lịch hàng năm.
Cũng theo truyền thuyết, Đào Tuấn Lương không chỉ là một vị anh hùng trần thế, mà sau khi mất, linh hồn ông vẫn thường che chở cho làng Nhân Lý mỗi khi thiên tai, dịch bệnh hay giặc giã xảy ra. Dân làng kể lại rằng đôi khi, trong những đêm không trăng, họ thấy ánh đèn lờ mờ quanh cổng đình hoặc nghe tiếng trống lễ vang vọng – được cho là những điềm linh ứng khi Thành hoàng cảnh báo hoặc phù hộ cho dân làng.
Để tưởng nhớ công đức của Thành hoàng Đào Tuấn Lương, hằng năm vào ngày 10/2 âm lịch, nhân dân các làng Nhân Lý, Bạch Đa, Đồng Khê và Lang Khê long trọng tổ chức lễ hội dâng hương. Lễ hội kéo dài ba ngày, thu hút đông đảo người dân từ khắp các vùng với các nghi thức tế lễ cổ truyền, múa lân, trống hội, đua thuyền cùng nhiều hoạt động độc đáo.
Người dân tin rằng trong không gian cổ kính này vẫn tồn tại linh khí và truyền thống hiếu học, trung nghĩa – một phần nhờ Nhân Lý từng là làng khoa bảng nổi tiếng, với nhiều vị khoa danh nức tiếng bảng vàng, góp phần quan trọng vào lịch sử giáo dục dưới các triều đại.
Trong số các nhà khoa bảng của làng Nhân Lý, nhiều người từng giữ những chức vụ quan trọng trong triều đình. Nguyễn Minh Bích đảm nhiệm chức Thượng thư; Phạm Bá Khuê và Nguyễn Thế Khải là Thị lang - chức quan đứng thứ hai sau Thượng thư; Phạm Bá Dương và Phạm Hưng Nhân giữ chức Tham chính; nhiều vị khác từng đảm nhiệm vai trò Giám sát ngự sử hoặc tham gia biên soạn kinh sách triều đình. Đặc biệt, Nguyễn Hoản còn là thành viên Hội Tao Đàn – tổ chức văn chương nổi tiếng dưới triều vua Lê Thánh Tông, khẳng định uy tín học thuật và văn hóa lừng danh của làng Nhân Lý.