xuân

Nâng trường đại học lên đại học: Tiêu chuẩn nghiêm ngặt, phát triển bền vững

Đây được xem là “bước phanh” cần thiết nhằm tránh tình trạng phát triển ồ ạt về quy mô, tên gọi nhưng không tương xứng về chất lượng, đồng thời góp phần tinh gọn, chuẩn hóa hệ thống giáo dục đại học theo hướng thực chất.

Làm rõ khái niệm, mô hình

Theo dự thảo nghị định, để được công nhận là đại học, cơ sở giáo dục đại học phải đáp ứng hàng loạt điều kiện như: Quy mô đào tạo chính quy tối thiểu 25.000 người học; tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ đạt ít nhất 60%; tỷ trọng nguồn thu từ hoạt động khoa học - công nghệ chiếm tối thiểu 20% tổng thu…

PGS.TS Thái Bá Cần - Hiệu trưởng Trường Đại học Gia Định (TPHCM) bày tỏ băn khoăn khi giữa dự thảo nghị định và văn bản luật chính thức còn có những điểm khác biệt, trong khi các trường cần một “kịch bản cuối cùng” để làm căn cứ triển khai.

Theo PGS.TS Thái Bá Cần, hiện nay các khái niệm như “đại học”, “trường đại học”, “trường thành viên”, “trường thuộc” được sử dụng khá đa dạng nhưng chưa thực sự rõ ràng về mặt mô hình. Ông cho rằng, nếu nhìn xa hơn trong 10-15 năm tới, khi Việt Nam hướng tới hình thành các đại học nghiên cứu mạnh, thì việc xác định rõ mô hình là điều cần thiết. “Đại học lớn chưa chắc đã mạnh và đại học mạnh chưa hẳn phải có quy mô quá lớn”, ông nhấn mạnh.

Ông Cần dẫn chứng nhiều đại học nghiên cứu hàng đầu như Viện Công nghệ California (Caltech, Mỹ) mỗi năm chỉ tuyển vài trăm sinh viên nhưng vẫn nằm trong nhóm dẫn đầu thế giới. Do đó, theo ông, quy định quy mô tối thiểu 25.000 sinh viên có thể giúp hình thành các đại học lớn, song chưa đủ để bảo đảm chất lượng học thuật. Việc phân định rõ đại học nghiên cứu, đại học ứng dụng hay đại học thực hành sẽ giúp tránh cách hiểu “một mô hình cho tất cả”.

Liên quan đến mô hình đại học vùng, tại tọa đàm lấy ý kiến góp ý hoàn thiện dự thảo nghị định mới đây tại TPHCM, đại diện Đại học Cần Thơ đã nêu ý kiến đối với điểm c khoản 1 Điều 6 của dự thảo - quy định điều kiện công nhận đại học quốc gia, đại học vùng. Theo đó, dự thảo yêu cầu các đại học vùng phải tổ chức đào tạo “đầy đủ” các trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ đối với các lĩnh vực trong danh mục quy định.

Đại diện Đại học Cần Thơ cho rằng, thuật ngữ “đầy đủ” có thể vô hình trung làm giảm lợi thế và chưa phù hợp với sứ mệnh của đại học vùng. Luật Giáo dục đại học đã xác định rõ sứ mệnh của đại học vùng là phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của vùng, gắn với điều kiện và thế mạnh đặc thù của từng địa phương.

Trong khi đó, mỗi vùng có nhu cầu và lợi thế phát triển khác nhau, không nhất thiết phải triển khai đồng đều các lĩnh vực đào tạo ở mọi trình độ. Từ thực tiễn đó, đại diện đại học này kiến nghị cân nhắc loại bỏ thuật ngữ “đầy đủ” trong quy định, nhằm tạo điều kiện để các đại học vùng phát huy thế mạnh riêng, thực hiện đúng sứ mệnh đã được Luật Giáo dục đại học quy định.

nang-truong-dai-hoc-len-dai-hoc-2.jpg Khuôn viên Đại học Phenikaa. Ảnh: Phenikaa

Nâng cấp lên đại học phải đi cùng năng lực nghiên cứu

Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Văn Phúc cho biết, hệ thống đại học Việt Nam hiện nay mang đậm dấu ấn lịch sử, được hình thành trên cơ sở các trường đại học sẵn có khi xây dựng đại học quốc gia và đại học vùng. Mô hình hai cấp với các trường đại học thành viên trong đại học quốc gia và đại học vùng đã được duy trì ổn định và chứng minh hiệu quả trong thời gian qua.

Theo Thứ trưởng, Luật Giáo dục đại học sửa đổi tiếp tục giữ ổn định mô hình đại học quốc gia và đại học vùng. Đối với các đại học khác, luật đã điều chỉnh theo hướng đại học một cấp; đại học có thể có các đơn vị trực thuộc nhưng không phải là trường đại học thành viên. Việc hình thành các đại học theo mô hình tương đương đại học quốc gia hoặc đại học vùng trong tương lai phải có chủ trương, đề án được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trên cơ sở các nghị quyết của Bộ Chính trị.

Riêng đối với các trường đại học muốn nâng cấp lên đại học, Thứ trưởng Nguyễn Văn Phúc nhấn mạnh, định hướng xuyên suốt của dự thảo nghị định là hướng tới mô hình đại học nghiên cứu. Hiện, phần lớn các trường đại học Việt Nam hiện nay vẫn thiên về giảng dạy. Trong khi đó, để có những đại học nằm trong nhóm hàng đầu khu vực và thế giới, Việt Nam cần hình thành được một nhóm đại học nghiên cứu mạnh, bởi các bảng xếp hạng đại học quốc tế đều lấy nghiên cứu khoa học làm tiêu chí trọng tâm.

Theo Thứ trưởng, những cơ sở nào có đủ năng lực và quyết tâm thì nên đi theo định hướng đại học nghiên cứu, qua đó giúp hệ thống giáo dục đại học phát triển mạch lạc, phân tầng rõ ràng. Các cơ sở được công nhận là “đại học” cần thực sự trở thành trung tâm đào tạo gắn với nghiên cứu khoa học trình độ cao; trong khi đó, các cơ sở khác vẫn có thể phát triển hiệu quả theo mô hình đại học giảng dạy.

Dẫn kinh nghiệm quốc tế, Thứ trưởng Nguyễn Văn Phúc cho biết tại nhiều đại học hàng đầu ở Mỹ và châu Âu, đặc biệt là nhóm top 20-30, tỷ lệ học viên sau đại học rất cao, thậm chí vượt số sinh viên đại học. Ngay cả ở các trường công lập lớn của Mỹ, người học sau đại học thường chiếm trên một phần ba tổng quy mô đào tạo.

Từ thực tiễn này, Thứ trưởng nhấn mạnh, nếu các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam muốn phát triển theo định hướng đại học nghiên cứu thì cần nâng tỷ lệ đào tạo sau đại học, đồng thời thay đổi cơ cấu nguồn thu. Theo Thứ trưởng, không thể tiếp tục phụ thuộc chủ yếu vào học phí. Nguồn thu từ nghiên cứu khoa học trong tổng thu của nhà trường phải tăng lên. Ở nhiều đại học nghiên cứu trên thế giới, nguồn thu này chiếm tối thiểu khoảng 20%, thậm chí 30-40%.

Bên cạnh đó, Thứ trưởng chỉ ra thách thức lớn khi tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ tại các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam còn thấp so với nhiều quốc gia phát triển, nơi giảng viên đại học chủ yếu là tiến sĩ. Vì vậy, các cơ sở định hướng trở thành đại học nghiên cứu cần có tỷ lệ giảng viên tiến sĩ cao hơn mặt bằng chung của hệ thống.

Theo Thứ trưởng việc xây dựng các tiêu chuẩn công nhận đại học trong dự thảo nghị định nhằm định hướng phát triển các đại học theo hướng nghiên cứu, tránh tình trạng nâng cấp hình thức, chạy theo quy mô và tên gọi mà không bảo đảm chất lượng thực chất. Việc nâng cấp từ trường đại học lên đại học phải gắn chặt với chất lượng đào tạo, năng lực nghiên cứu và đóng góp học thuật, qua đó tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của giáo dục đại học Việt Nam trong dài hạn.

Hiện nay, Việt Nam tồn tại ba mô hình đại học, gồm: Đại học quốc gia (2 đại học), đại học vùng (3 đại học) và đại học (7 đại học). Trong đó, đại học quốc gia và đại học vùng là mô hình hai cấp, bao gồm các trường đại học thành viên độc lập, có con dấu và cấp bằng tốt nghiệp mang tên từng trường. Một số đại học khác như Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Kinh tế Quốc dân, Đại học Công nghiệp Hà Nội hay Đại học Phenikaa có các đơn vị trực thuộc, song không có con dấu riêng và bằng tốt nghiệp do đại học “mẹ” cấp.