Nằm trên vùng đất cổ Kẻ Sấu, Quế Dương là một trong những làng Việt nổi tiếng về truyền thống hiếu học, trọng văn chương, đồng thời cũng hun đúc khí phách thượng võ.
Qua hệ thống tục lệ Hán Nôm, đình làng, võ chỉ cùng các sinh hoạt tín ngưỡng, làng Quế Dương (xã Dương Hòa, Hà Nội) hiện lên như một mô hình thu nhỏ của làng xã Bắc Bộ truyền thống, nơi văn thần và võ tướng cùng song hành, tạo nên chiều sâu lịch sử và sự phong phú văn hóa được gìn giữ qua nhiều thế hệ.
Làng Việt cổ hội tụ văn học và tinh thần thượng võ
Theo sử liệu, Quế Dương là vùng đất cổ đặc biệt, dưới lớp đất là dấu tích văn hóa Phùng Nguyên cách nay khoảng 2.500 năm, còn được ghi nhận qua các di chỉ khảo cổ Vĩnh Quang. Điều này cho thấy cư dân Việt cổ đã đến khai phá, lập làng tại đây từ rất sớm.
Khoảng năm 1969, Viện Khảo cổ học Việt Nam khai quật di chỉ Vĩnh Quang tại chùa Đại Bi, phát hiện khu mộ táng với 13 sọ người thuộc nhóm người tiểu chủng Mông-gô-lô-ít phương Nam, đại chủng da vàng, được xác định thuộc nhóm Lạc Việt – Tây Âu trong khối Bách Việt, vào khoảng thế kỷ IV đến III trước Công nguyên.
Tại di chỉ này, qua nhiều lần khai quật còn phát hiện nhiều hiện vật như pho tượng người đàn ông bằng đồng đầu chít khăn, ngồi bó gối cùng các di vật gồm rìu chiến, búa chiến, mũi tên đồng, công cụ sản xuất, tiền, đồ trang sức và đồ gốm. Những hiện vật này giúp các nhà khảo cổ xác định khu di chỉ thuộc thời kỳ văn hóa Gò Mun, trước Công nguyên.
Theo tư liệu địa chí, Quế Dương có tên nôm là Kẻ Sấu, gồm ba làng Sấu hợp thành tổng Sấu nổi tiếng trong vùng. Quế Dương còn được biết đến với tên Sấu Vật do có truyền thống đấu vật. Sách “Đồng Khánh địa dư chí” ghi nhận: “Quế Dương có truyền thống văn học nhưng có cả người vũ dũng”, phản ánh nét đặc trưng vừa hiếu học vừa thượng võ của làng.
Theo giới nghiên cứu, Quế Dương không chỉ nổi bật bởi truyền thống khoa bảng mà còn được biết đến với tinh thần thượng võ, thể hiện qua võ chỉ – một loại hình di tích đặc thù gắn với việc tôn vinh các võ tướng, anh hùng và những người có công với quê hương, đất nước.
Đáng chú ý, hệ thống tư liệu Hán Nôm về tục lệ làng Quế Dương còn được lưu giữ gần như nguyên vẹn dưới nhiều hình thức như sách chép tay, sách kho A và văn bia đá. Đây là trường hợp hiếm trong kho tư liệu làng xã Việt Nam, cho phép các nhà nghiên cứu phục dựng tương đối đầy đủ diện mạo lịch sử, kiến trúc và sinh hoạt tín ngưỡng của một làng Việt cổ.
Trải qua các thời kỳ lịch sử, địa danh và địa giới hành chính Quế Dương có nhiều thay đổi, song văn hóa làng vẫn được bảo lưu và tiếp nối. Dù thuộc không gian văn hóa Thăng Long hay xứ Đoài trong từng giai đoạn, Quế Dương vẫn là một làng Việt cổ điển hình với các thiết chế xã hội mang đậm dấu ấn truyền thống.
Điều này được phản ánh qua hệ thống tục lệ, khoán ước như những “bộ luật” bất thành văn, có vai trò điều chỉnh đời sống cộng đồng. Theo nhà nghiên cứu Đinh Khắc Thuân (Viện Nghiên cứu Hán Nôm), tục lệ xã Quế Dương xưa là trường hợp đặc biệt khi được ghi chép, lưu giữ trong ba loại tư liệu khác nhau, gồm sách “Tục lệ” (ký hiệu AFa2/13), sách kho A “Dương Liễu, Quế Dương, Mậu Hòa đẳng xã giao tục lệ” (ký hiệu A.2855) và văn bia “Bản tổng tạo đình bi ký” dựng năm Chính Hòa thứ 10 (1689).
Các tư liệu cho thấy vào cuối thế kỷ XVII, Quế Dương không tồn tại biệt lập mà thuộc một tổng gồm ba xã: Dương Liễu, Quế Dương và Mậu Hòa, cùng thuộc huyện Đan Phượng, phủ Quốc Oai. Ba xã dùng chung đình tổng – đình Quế Dương, vừa là trung tâm tín ngưỡng, vừa là nơi diễn ra sinh hoạt hành chính và lễ hội chung, phản ánh mô hình phổ biến của làng xã thời Lê trung hưng.
Quế Dương bảo lưu hệ thống tục lệ Hán Nôm, khoán ước và tín ngưỡng phong phú.
Khoa bảng ghi danh, võ công oanh liệt
Quế Dương sớm hình thành truyền thống hiếu học và trọng đạo lý. Các sinh hoạt tế lễ, lễ hội theo hai tiết Xuân - Thu được duy trì đều đặn, thể hiện quan niệm hài hòa giữa con người với tự nhiên, giữa hiện tại với cội nguồn. Truyền thống “uống nước nhớ nguồn” không chỉ thể hiện qua việc thờ phụng các vị thần mà còn qua sự tôn vinh những bậc tiền nhân có công với làng, cả về văn trị lẫn võ công.
Theo giới nghiên cứu, truyền thống khoa bảng thường gắn với văn chỉ, còn tinh thần thượng võ gắn với võ chỉ. Quế Dương là một trong số ít làng còn bảo lưu rõ nét cả hai mạch văn hóa này. Làng không chỉ có những người đỗ đạt làm quan văn mà còn có các võ tướng, tướng lĩnh từng cống hiến qua nhiều triều đại.
Võ chỉ Quế Dương là di tích ghi dấu võ công của các bậc anh hùng tiền bối vì dân, vì nước. Đây là nơi phụng thờ Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn – biểu tượng tiêu biểu của tinh thần thượng võ và lòng trung quân ái quốc trong lịch sử Việt Nam; đồng thời phối thờ các võ quan, tướng lĩnh xuất thân từ địa phương.
Là vùng đất nổi tiếng “địa linh nhân kiệt”, Quế Dương có nhiều vị đại khoa như Nguyễn Thúc Thông (sinh năm 1415), người giáp Bài Trung, đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Mậu Thìn (1448). Ông từng giữ chức Quốc sử viện Đồng tu sử, sau thăng Tham chính – chức quan trọng trong bộ máy triều Lê sơ.
Tiếp đó là Nguyễn Quang Sạn (1510–1586), cũng người giáp Bài Trung, đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Nhâm Thìn (1532), từng giữ chức Đề hình giám sát Ngự sử. Ông mất năm 1586, thọ 77 tuổi, xuất thân trong gia tộc có nhiều người làm quan, gia thế hiển đạt.
Bên cạnh các bậc đại khoa, Quế Dương còn có 5 người đỗ Tam trường thi Hội, 14 người đỗ Hương cống, Cử nhân. Những con số này cho thấy mặt bằng học vấn cao hơn nhiều địa phương cùng thời, đồng thời phản ánh vai trò của Quế Dương như một trung tâm giáo dục truyền thống trong không gian làng xã xứ Đoài.
Song hành với truyền thống khoa bảng là đội ngũ võ quan, tướng lĩnh xuất thân từ Quế Dương, góp phần hình thành diện mạo “làng văn thần – võ tướng” hiếm có. Có thể kể đến Tả Đô đốc Nguyễn Danh Siêu (giáp Bài Thương); Tư chỉ huy sứ Nguyễn Hiền Tài (giáp Bài Thượng); Hộ bộ Đô lại Nguyễn Văn Uyên (giáp Vĩnh Trung); các Nha úy Trần Nhuận, Nguyễn Chiếu Minh; Thượng tướng Thể Quận công Khuê Trung hầu Quốc lão khoa công Nguyễn Diễn; Thí tướng sĩ Lang Vĩnh Hùng Đồn Điền sở; Phó sở sứ Nguyễn Thuần; Phó bảng, Chánh lãnh binh Nguyễn Quý Công dưới triều Nguyễn.
Làng Quế Dương coi trọng cả văn lẫn võ, nên các bậc “chức sắc danh khoa” không chỉ được ghi danh mà còn được thờ phụng trong các thiết chế tín ngưỡng. Đây không phải hai giá trị đối lập mà là sự bổ sung, cùng hướng tới mục tiêu bảo vệ và xây dựng cộng đồng.
Hệ thống tục lệ và khoán ước của làng cũng phân định rõ thứ bậc, vai vế trong sinh hoạt, đặc biệt trong không gian đình làng. Việc phân chia chỗ ngồi trong các dịp tế lễ, hội họp được quy định cụ thể, phản ánh trật tự xã hội dựa trên tuổi tác, chức vị và công trạng.
Di tích đền Vật - một trong những minh chứng cho tinh thần thượng võ của người Quế Dương.
Di sản làng văn hiến
Đáng chú ý, đình Quế Dương thế kỷ XVII không chỉ là nơi thờ thần mà còn là không gian sinh hoạt văn hóa phong phú. Tư liệu khoán ước cho biết, đình từng là nơi diễn ra các hoạt động hát ca trù trong kỳ lễ hội. Điều này cho thấy sự giao thoa giữa tín ngưỡng và nghệ thuật, giữa nghi lễ trang nghiêm và sinh hoạt văn hóa dân gian, góp phần làm phong phú đời sống tinh thần của một làng văn hiến.
Đình Quế Dương được dựng vào cuối thế kỷ XVII, với quy mô khá lớn so với các ngôi đình đương thời. Theo khoán ước năm Chính Hòa thứ 10 (1689), đình gồm một tòa đại đình năm gian (tam gian nhị hạ), chưa có các công trình phụ như hậu cung tách biệt. Không gian thờ thần được bố trí ngay tại gian giữa bằng cách đóng ván bưng hai bên – hình thức thường gặp ở các ngôi đình có niên đại sớm.
Khoán ước quy định chi tiết về kích thước, chất liệu và tỷ lệ các cấu kiện kiến trúc, từ cột lớn (đại trụ), cột vừa (trung trụ), cột nhỏ (tiểu trụ) đến thượng lương, xà, kẻ, hoành tử. Với đơn vị đo lường thời bấy giờ, cột lớn của đình Quế Dương cao khoảng 6m, cho thấy mức độ đầu tư công phu trong thiết kế và xây dựng.
Bên cạnh đình làng, võ chỉ Quế Dương là một di tích tín ngưỡng quan trọng, gắn bó mật thiết với đời sống người dân địa phương. Di tích gồm tiền tế và hậu cung. Tiền tế là một nếp nhà ngang ba gian, xây kiểu tường hồi bít đốc tay ngai, kết hợp trụ biểu trang trí tỉ mỉ. Các chi tiết phù điêu, tượng võ sĩ cầm đao kiếm đứng canh cùng đề tài “Tứ quý” thể hiện tinh thần thượng võ và thẩm mỹ truyền thống của người Quế Dương.
Hậu cung là nơi đặt ban thờ Đức Thánh Trần, được xây dựng trên gò đất cao, qua chín bậc thềm, tạo thế tôn nghiêm. Dù kiến trúc không quá cầu kỳ, cách bố trí không gian và nghi thức tế lễ vẫn cho thấy vai trò trung tâm của võ chỉ trong đời sống tín ngưỡng làng.
Ngoài ra, Quế Dương còn nổi tiếng với chùa Đại Bi, xây dựng từ thời Trần, năm Long Khánh thứ 7 (1373), hiện đã được tôn tạo tương đối trọn vẹn. Ngôi chùa lưu giữ nhiều di vật, cổ vật và bảo vật quốc gia, trong đó có “bệ đá hoa sen” – một trong những tác phẩm điêu khắc đá tiêu biểu của Việt Nam thế kỷ XIV.
Bảo vật quốc gia 'Bệ đá hoa sen'.
Đặc biệt, tại chùa Đại Bi, mạch nguồn Hán học vẫn được bảo lưu và phát huy trong đời sống hiện đại. Hằng năm, chùa mở lớp chiêu sinh dạy chữ Hán Nôm bài bản, gắn với tinh thần Phật học và minh triết phương Đông. Ni sư Thích Đàm Lượng cho biết: “Việc mở lớp không chỉ nhằm gìn giữ và lan tỏa giá trị văn hóa Hán Nôm, mà còn giúp người học nắm vững nền tảng chữ nghĩa, phục vụ đọc hiểu thư tịch, kinh văn cổ; từ đó hiểu sâu hơn về cội nguồn văn hóa và đời sống tinh thần của cha ông”.
Trong bối cảnh đô thị hóa nhanh và mạnh của Hà Nội, làng Quế Dương cũng chịu không ít tác động. Tuy nhiên, hệ thống di tích và phong tục truyền thống vẫn được gìn giữ tương đối nguyên vẹn. Từ vùng đất cổ Kẻ Sấu, Quế Dương đã hình thành và phát triển như một không gian văn hóa đặc biệt, nơi truyền thống hiếu học, tinh thần thượng võ cùng hệ thống di tích, tục lệ, khoán ước tạo nên bản sắc riêng của mảnh đất sản sinh văn thần – võ tướng.
Theo nhà nghiên cứu Đinh Khắc Thuân, trong dòng chảy hiện đại, Quế Dương vẫn là minh chứng sống động cho sức sống bền bỉ của văn hóa làng Việt. Việc nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị các di sản như đình làng, võ chỉ và hệ thống tục lệ không chỉ góp phần làm giàu thêm kho tàng văn hóa dân tộc, mà còn giúp hiểu sâu hơn về cội nguồn và bản sắc. Đặc biệt, tinh thần trọng cả văn lẫn võ của Quế Dương là một trường hợp hiếm, nhất là khi vẫn bảo lưu được các di sản vốn là những mạch nguồn lịch sử quan trọng.