xuân

Kỳ vọng vào những đổi thay

Từ nhà đầu tư giáo dục, cán bộ quản lý đến giáo viên, kỳ vọng chung được đặt ra là đưa chủ trương sớm đi vào cuộc sống, tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của giáo dục.

TS Nguyễn Đức Quốc - Chủ tịch Tập đoàn Giáo dục Quốc tế Nam Việt: Kiến tạo nền giáo dục phát triển toàn diện

ky-vong-vao-nhung-doi-thay-3.jpg TS Nguyễn Đức Quốc.

Từ góc nhìn của một nhà đầu tư, nhà quản lý giáo dục nhiều năm gắn bó với hệ thống Trường Mầm non - Tiểu học – THCS - THPT Nam Việt (TPHCM), tôi mong muốn ngành GD-ĐT tiếp tục kiên định với mục tiêu lấy người học làm trung tâm, từng bước giảm áp lực thành tích và thi cử, thay vào đó chú trọng phát triển năng lực toàn diện cho học sinh.

Theo tôi, giáo dục không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ kiến thức, mà cần hướng tới hình thành tư duy độc lập, khả năng tự học, kỹ năng sống và các giá trị nhân văn. Việc đổi mới chương trình, sách giáo khoa hay phương pháp giảng dạy cần được đánh giá bằng chất lượng đầu ra thực chất của người học, thay vì chỉ dựa trên các con số hay báo cáo hành chính.

Tại Trường Mầm non - Tiểu học – THCS - THPT Nam Việt, quán triệt tinh thần Nghị quyết số 71/NQ-TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, chúng tôi xác định mục tiêu phát triển giáo dục theo hướng bền vững, dài hạn và có chiều sâu, không chạy theo thành tích ngắn hạn, mà tập trung kiến tạo nền tảng vững chắc cho sự trưởng thành toàn diện của người học.

Trên cơ sở đó, Tập đoàn tiếp tục hoàn thiện hệ sinh thái giáo dục toàn diện, đặt học sinh ở vị trí trung tâm của mọi chiến lược, đầu tư và đổi mới; đồng thời nâng cao chất lượng chương trình đào tạo, đổi mới phương pháp giảng dạy, xây dựng môi trường học tập an toàn, nhân văn và giàu trải nghiệm, qua đó góp phần hình thành thế hệ công dân có tri thức, nhân cách và khát vọng cống hiến cho đất nước.

Là người đầu tư của hệ thống giáo dục ngoài công lập, tôi cũng mong muốn trong năm 2026, ngành GD-ĐT tiếp tục hoàn thiện cơ chế đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên, đồng thời có chính sách ghi nhận, tôn vinh xứng đáng đối với đội ngũ nhà giáo, cả trong hệ thống công lập và ngoài công lập.

Tôi cũng kỳ vọng ngành sẽ tiếp tục xây dựng môi trường giáo dục bình đẳng, minh bạch giữa các loại hình trường học. Dù là công lập hay ngoài công lập, các cơ sở giáo dục đều có chung mục tiêu đào tạo con người cho xã hội, vì vậy cần được tiếp cận chính sách một cách công bằng, phù hợp với đặc thù từng mô hình. Khi có sự phối hợp hài hòa giữa các loại hình giáo dục, toàn ngành sẽ có thêm nguồn lực để nâng cao chất lượng, giảm áp lực cho ngân sách nhà nước và đáp ứng tốt hơn nhu cầu học tập ngày càng đa dạng của người dân.

Trước xu thế chuyển đổi số và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, mong rằng ngành GD-ĐT sẽ tiếp tục định hướng việc ứng dụng công nghệ một cách linh hoạt, hiệu quả, coi công nghệ là công cụ hỗ trợ đổi mới quản lý và giảng dạy, nhưng không làm lu mờ vai trò trung tâm của người thầy và các giá trị nhân văn cốt lõi của giáo dục.

Cùng với đó, việc mở rộng hợp tác quốc tế, tiếp thu tinh hoa giáo dục tiên tiến cần được triển khai trên cơ sở phù hợp với điều kiện thực tiễn, đồng thời giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Nhìn về năm 2026 và xa hơn, kỳ vọng đặt ra không chỉ là hội nhập để so sánh thứ hạng, mà quan trọng hơn là thông qua hội nhập để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, góp phần tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững và lâu dài của đất nước.

Ông Nguyễn Công Danh – Hiệu trưởng Trường Phổ thông DTBT THCS Na Ngoi (Nghệ An): Mong muốn tạo động lực phát triển cho giáo dục vùng cao

ky-vong-vao-nhung-doi-thay-4.jpg Ông Nguyễn Công Danh.

Hơn 30 năm gắn bó với giáo dục miền núi, tôi có cơ hội chứng kiến những bước chuyển mình rõ nét của sự nghiệp “trồng người” nơi vùng cao, từ góc nhìn của một giáo viên trực tiếp đứng lớp đến vai trò người quản lý.

Có thể khẳng định, trong những năm gần đây, giáo dục miền núi, vùng dân tộc thiểu số luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước và ngành Giáo dục, thể hiện qua nhiều chủ trương, chính sách thiết thực. Gần đây nhất là chương trình xây dựng 248 trường nội trú liên cấp tại các xã biên giới trên cả nước.

Tại Nghệ An, Trường Phổ thông nội trú liên cấp Na Ngoi là công trình được khởi công đầu tiên, vinh dự đón Tổng Bí thư Tô Lâm về dự và chia sẻ với thầy trò cùng bà con nhân dân địa phương. Đây là chủ trương mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, không chỉ tạo môi trường học tập toàn diện cho học sinh vùng biên giới, mà còn giúp giáo viên yên tâm công tác, toàn tâm toàn ý cho nhiệm vụ dạy học.

Hiện, xã Na Ngoi có hơn 1.900 học sinh từ lớp 1 đến lớp 9, trong đó số học sinh từ lớp 3 - 9 khoảng gần 1.500 em. Trường Phổ thông nội trú liên cấp Na Ngoi được xây dựng với quy mô 45 lớp, đủ khả năng đáp ứng nhu cầu học tập nội trú của học sinh trên địa bàn. Tôi cho rằng, công tác tuyên truyền, vận động để phụ huynh và học sinh tham gia học tập tại trường nội trú sẽ thuận lợi.

Thực tế cho thấy, nhiều phụ huynh đi làm ăn xa tại các khu công nghiệp, con cái ở nhà cùng ông bà. Có trường nội trú, phụ huynh càng yên tâm khi con được chăm sóc, quản lý và học tập đầy đủ. Thậm chí, nhiều gia đình ở gần trường cũng mong muốn cho con em ở nội trú, tuy nhiên theo quy định, chế độ này chỉ ưu tiên học sinh ở cách trường từ 5 – 7km trở lên, tùy cấp học.

Cùng với đầu tư cơ sở vật chất, chính sách dành cho đội ngũ nhà giáo ngày càng được cải thiện. Nghị quyết 71/NQ-TW của Bộ Chính trị đã thể hiện sự quan tâm rõ rệt đến đời sống giáo viên, từ tiền lương, phụ cấp, chế độ thâm niên đến các chính sách ưu tiên thu hút, giữ chân giáo viên công tác ở vùng đặc biệt khó khăn, biên giới. Tôi thường xuyên trao đổi với cán bộ, giáo viên rằng: Khi đãi ngộ ngày càng tốt hơn, mỗi thầy cô cần nâng cao tinh thần trách nhiệm, chủ động học tập, bồi dưỡng chuyên môn, từ đó nâng cao chất lượng dạy học.

Trước đây, mỗi huyện vùng cao của Nghệ An chỉ có một trường THCS Dân tộc nội trú, tuyển chọn những học sinh có học lực tốt, được xem là “đầu tàu” về chất lượng. Mô hình trường nội trú liên cấp hiện nay có điểm khác biệt khi trực thuộc cấp xã, tiếp nhận toàn bộ học sinh trên địa bàn. Để mô hình này vận hành hiệu quả khi chuyển đổi từ bán trú sang nội trú liên cấp trong năm học tới, tôi mong các cấp chính quyền và ngành Giáo dục tỉnh quan tâm tổ chức tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, giáo viên.

Trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, xã mới tuy rộng nhưng không thể nhiều đơn vị cơ sở giáo dục so với huyện trước đây. Việc trao đổi, giao lưu chuyên môn dạy học của cả giáo viên và học sinh vì vậy cũng hạn chế, thu hẹp hơn. Nhất là đối với xã vùng cao, số lượng trường học, giáo viên trên địa bàn ít, có những xã không thực hiện sáp nhập thì mỗi cấp học chỉ có 1 trường.

Vì vậy, tôi đề xuất ngành Giáo dục xây dựng cơ chế sinh hoạt chuyên môn theo cụm, tạo điều kiện cho giáo viên và học sinh được trao đổi, học hỏi, chia sẻ kinh nghiệm. Giáo dục cũng như các lĩnh vực khác, cần sự kết nối và thi đua để tạo động lực phát triển; nếu chỉ bó hẹp trong phạm vi một xã, rất dễ nảy sinh tâm lý tự hài lòng với những gì đang có.

Thầy Trần Bình Trọng - Trường THPT Định Thành (Định Thành, Cà Mau): Mong được tháo gỡ “độ vênh” trong xét thăng hạng giáo viên

ky-vong-vao-nhung-doi-thay-6.jpg Thầy Trần Bình Trọng.

Năm qua ngành GD-ĐT đã ghi dấu bằng nhiều chủ trương, chính sách quan trọng, tác động trực tiếp đến đội ngũ nhà giáo. Có thể kể đến Nghị quyết số 71-NQ/TW (tháng 8/2025) về giáo dục và đào tạo, Luật Nhà giáo vừa được thông qua, cùng với việc Bộ GD&ĐT tiếp tục chỉ đạo rà soát công tác thăng hạng chức danh nghề nghiệp giáo viên thông qua Công văn số 7723/BGDĐT-NGCBQLGD hay gần nhất là quyết định thực hiện một bộ sách giáo khoa thống nhất trên phạm vi toàn quốc…

Đây là những định hướng lớn, thể hiện rõ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và ngành Giáo dục đối với vai trò, vị thế và quyền lợi của người thầy trong giai đoạn đổi mới hiện nay.

Nghị quyết 71-NQ/TW được xem là văn kiện mang tính đột phá, khẳng định giáo dục là nhân tố quyết định vận mệnh dân tộc, đặt mục tiêu xây dựng nền giáo dục tự chủ, hiện đại, công bằng và hội nhập quốc tế. Các giải pháp như nâng phụ cấp ưu đãi nghề lên tối thiểu 70%, miễn học phí và sách giáo khoa đến năm 2030… sẽ góp phần giảm áp lực cho giáo viên và học sinh, bảo đảm sự công bằng trong tiếp cận tri thức, nhất là ở các địa phương còn khó khăn.

Việc Luật Nhà giáo được thông qua là dấu mốc quan trọng, góp phần khẳng định vị thế, vai trò của nhà giáo trong xã hội, đồng thời tạo cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền lợi, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đội ngũ giáo viên. Đây cũng là nền tảng để xây dựng đội ngũ nhà giáo chuẩn mực, chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn mới…

Từ các chính sách trên, cho thấy, Bộ GD&ĐT cùng các cơ quan quản lý ngành Giáo dục đã thể hiện sự quyết liệt và trách nhiệm trong việc khẳng định vai trò, vị thế và bảo vệ quyền lợi chính đáng của đội ngũ giáo viên.

Từ thực tiễn công tác, tôi vẫn băn khoăn việc thăng hạng chức danh nghề nghiệp, dù Bộ GD&ĐT đã ban hành Công văn số 7723/BGDĐT-NGCBQLGD để rà soát, tháo gỡ vướng mắc, nhưng tại địa phương tôi - nhất là sau sáp nhập - vẫn có không ít giáo viên THPT đủ điều kiện mà chưa được xét thăng hạng. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi chính đáng và tâm lý làm nghề của chúng tôi.

Tôi cũng mong dư luận và xã hội nhìn nhận đầy đủ hơn, bởi nhiều chính sách đối với giáo viên mới dừng ở văn bản, nghị quyết hoặc đang trong quá trình hoàn thiện, chưa được triển khai đồng bộ.

Bước sang năm mới 2026, tôi kỳ vọng ngành Giáo dục sẽ tiếp tục triển khai hiệu quả các Nghị quyết, luật và chủ trương đã ban hành theo đúng lộ trình, đồng bộ, thống nhất giữa các địa phương và sát với thực tiễn cơ sở. Các chính sách về tiền lương, phụ cấp ưu đãi nghề, thăng hạng chức danh nghề nghiệp được thực hiện công bằng, minh bạch giữa các địa phương, khắc phục tình trạng chênh lệch sau sáp nhập, để quyền lợi chính đáng của giáo viên được bảo đảm đầy đủ và kịp thời.

Đối với giáo viên công tác tại vùng khó khăn, mong ngành Giáo dục địa phương tiếp tục quan tâm đến điều kiện cơ sở vật chất, nhà công vụ, trang thiết bị dạy học, các chính sách khuyến khích lâu dài… để họ yên tâm bám trường, lớp và gắn bó lâu dài với địa phương.

Quan trọng hơn, đội ngũ nhà giáo kỳ vọng ngành Giáo dục sẽ tạo môi trường làm việc tích cực, nhân văn và tôn trọng người thầy, giúp mỗi giáo viên cảm nhận được giá trị nghề nghiệp và tự hào với công việc của mình. Khi quyền lợi được bảo đảm, điều kiện dạy học được cải thiện và người thầy được tiếp thêm động lực, năng lực và sự sáng tạo, chắc chắn chất lượng giáo dục sẽ được nâng cao bền vững, toàn diện và thực chất, đáp ứng kỳ vọng của xã hội trong thời kỳ đổi mới và hội nhập.

Thầy Nguyễn Văn Nhân – Giáo viên Trường Phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học Trà Leng 1 (xã Trà Leng, TP Đà Nẵng): Rút ngắn khoảng cách giữa giáo viên biên chế và hợp đồng ở vùng núi cao

ky-vong-vao-nhung-doi-thay-1.jpg Thầy giáo Nguyễn Văn Nhân và học sinh trong lễ khai giảng – khánh thành điểm trường Ông Bình.

Tôi đến với nghề giáo không phải bằng một quyết định lớn lao, mà bằng lựa chọn tự nhiên của một người sinh ra ở miền núi, hiểu việc thiếu chữ đã từng neo chặt bao phận người ra sao. Năm 2019, tôi bắt đầu dạy hợp đồng tại Trường Phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học Trà Dơn, huyện Nam Trà My. Đến nay, đã hơn 6 năm tôi gắn bó với những lớp học dưới tán rừng Ngọc Linh.

Năm học 2025 – 2026, tôi đứng lớp tại điểm trường Ông Yên – nơi chỉ có 11 học sinh lớp ghép 1–2 và 5 trẻ mẫu giáo trong cùng một nóc. Một thầy, nhiều vai. Một lớp học, nhiều cấp độ. Ở đây, nghề giáo không chỉ là dạy chữ, mà còn giữ trẻ, giữ lớp, giữ niềm tin của phụ huynh vào con đường học tập.

Trong bối cảnh ấy, việc Quốc hội thông qua Luật Nhà giáo là điều khiến chúng tôi – những giáo viên ở vùng sâu, xa… thực sự kỳ vọng. Không chỉ vì luật hóa vị thế nhà giáo, mà bởi lần đầu tiên, những vấn đề cốt lõi như phụ cấp ưu đãi, phụ cấp thu hút, thâm niên nghề, và điều kiện làm việc đặc thù được đặt ra một cách căn cơ.

Luật Nhà giáo chính thức có hiệu lực từ ngày 1/1/2026 với những thay đổi đáng chú ý về chế độ lương, phụ cấp và điều kiện làm việc của giáo viên. Với chúng tôi, đây không chỉ là cột mốc chính sách, mà là tín hiệu cho thấy Nhà nước đã nhìn thẳng vào những vấn đề cốt lõi của nghề giáo. Tuy nhiên, khi chính sách đã “mở đường”, điều quan trọng hơn cả là cách thức tổ chức thực hiện để những quy định ấy thực sự chạm tới lớp học miền núi, nơi điều kiện dạy và học còn nhiều thách thức.

Thực tế tại các điểm trường vùng cao cho thấy, giáo viên đang gánh vác khối lượng công việc vượt xa khuôn khổ một tiết dạy thông thường. Lớp ghép nhiều trình độ, dạy liên cấp, kiêm nhiệm công tác bán trú, phụ đạo ngoài giờ, quản lý học sinh ngoài lớp học… là câu chuyện phổ biến. Trong điều kiện giao thông cách trở, thiếu điện, thiếu hạ tầng cơ bản, người thầy không chỉ truyền đạt kiến thức, mà còn đóng vai trò như điểm tựa giáo dục duy nhất của cộng đồng.

Trong bối cảnh đó, chế độ tiền lương mới cho nhà giáo mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Không chỉ là điều chỉnh thu nhập, chính sách này góp phần khẳng định lại giá trị nghề nghiệp của người thầy, nhất là ở những địa bàn mà sự cống hiến thường diễn ra âm thầm, ít được nhìn thấy. Tuy vậy, kỳ vọng lớn nhất của giáo viên vùng khó không nằm ở con số trên văn bản, mà ở tính kịp thời, đồng bộ và công bằng trong triển khai.

ky-vong-vao-nhung-doi-thay-2.jpg Học sinh Trường MN-TH-THCS-THPT Nam Việt trong giờ ăn trưa. Ảnh: MA

Nếu chính sách tiền lương, phụ cấp ưu đãi, phụ cấp thu hút, thâm niên được thực hiện nghiêm túc, đúng đối tượng, đúng mức, giáo viên miền núi sẽ có thêm điểm tựa để yên tâm công tác lâu dài. Ngược lại, nếu độ trễ kéo dài hoặc thực hiện thiếu thống nhất giữa các địa phương, thì chính sách dù đúng vẫn khó phát huy hết tác dụng.

Một vấn đề khác cần được nhìn nhận thẳng thắn là khoảng cách giữa giáo viên biên chế và giáo viên hợp đồng. Trong thực tế, nhiều giáo viên hợp đồng đã đứng lớp nhiều năm, đảm nhận nhiệm vụ nặng nề tại vùng khó, nhưng chưa có sự ổn định nghề nghiệp tương xứng. Khi mặt bằng tiền lương mới đã được xác lập, đây là thời điểm phù hợp để thiết kế cơ chế tuyển dụng, chuyển đổi và sử dụng đội ngũ một cách căn cơ, ưu tiên những giáo viên đã gắn bó lâu dài với địa bàn, đặc biệt giáo viên người địa phương.

Với sự hỗ trợ từ các cơ quan, đơn vị, cá nhân, câu lạc bộ thiện nguyện... những năm qua, cơ sở vật chất, phòng ốc, điều kiện dạy – học, nhà công vụ cho giáo viên ở những điểm trường lẻ đã có nhiều thay đổi. Tuy nhiên, về lâu dài, đầu tư chất lượng cho giáo dục vùng khó cần sự thay đổi, trong đó mô hình trường nội trú liên cấp cần được nhân rộng.

Thực tiễn cho thấy, mô hình nội trú liên cấp giúp giải quyết đồng thời nhiều bài toán: Giảm tình trạng học sinh bỏ học do đường xa, thời tiết khắc nghiệt; tạo môi trường học tập ổn định, liên thông giữa các cấp học; đồng thời cho phép tổ chức đội ngũ giáo viên theo hướng chuyên nghiệp hơn. Khi học sinh được học tập, sinh hoạt tập trung, nhà trường không chỉ dạy chữ, mà còn bồi dưỡng kỹ năng sống, nề nếp học tập và định hướng tương lai cho các em.

Đối với giáo viên, trường nội trú liên cấp giúp giảm áp lực phải “cắm chốt” đơn lẻ ở các điểm trường quá xa xôi, tạo điều kiện sinh hoạt, trao đổi chuyên môn, nâng cao chất lượng giảng dạy. Quan trọng hơn, khi nội trú liên cấp được đầu tư đồng bộ về cơ sở vật chất, chế độ chính sách cho giáo viên và hỗ trợ nuôi dưỡng học sinh, mô hình này sẽ trở thành hạt nhân giữ chân cả thầy và trò tại vùng cao.

Bước sang năm 2026, đội ngũ nhà giáo miền núi kỳ vọng ngành Giáo dục sẽ chuyển mạnh từ tư duy “hỗ trợ” sang tư duy đầu tư phát triển. Khi Luật Nhà giáo và chế độ tiền lương mới đã tạo khung pháp lý, điều cần thiết là những chương trình hành động cụ thể, nguồn lực đủ mạnh và cách làm nhất quán từ Trung ương đến cơ sở.