Xu hướng này góp phần hình thành thế hệ công dân năng động, sáng tạo, sẵn sàng đổi mới và đóng góp cho sự phát triển của nền kinh tế tri thức.
ThS Lê Nhật Quang - Giám đốc Trung tâm Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, Đại học Quốc gia TPHCM chia sẻ góc nhìn về ý nghĩa của Chương trình hỗ trợ học sinh - sinh viên khởi nghiệp giai đoạn 2026 - 2035 vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Khởi nghiệp ngày càng thực chất
- Quyết định 336/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình hỗ trợ học sinh - sinh viên khởi nghiệp giai đoạn 2026 - 2035 vừa được Thủ tướng ban hành ngày 25/2/2026 là bước tiếp nối của Quyết định 1665/QĐ-TTg ban hành tháng 10/2017 về chương trình hỗ trợ học sinh - sinh viên khởi nghiệp đến năm 2025. Theo ông, kết quả nổi bật nhất mà Quyết định 1665/QĐ-TTg mang lại cho học sinh - sinh viên đam mê khởi nghiệp trong thời gian qua là gì?
Theo ThS Lê Nhật Quang, với sự hỗ trợ của các chính sách mới, chương trình khởi nghiệp của học sinh - sinh viên đang ngày càng đa dạng, thực chất và gắn chặt với chiến lược đổi mới sáng tạo quốc gia. Sinh viên được tiếp cận nhiều công cụ, công nghệ và cơ hội hợp tác với doanh nghiệp, qua đó có điều kiện thuận lợi hơn để hiện thực hóa các ý tưởng khởi nghiệp ngay từ khi còn trên ghế nhà trường.
- Trước hết, văn hóa khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo (KN&ĐMST) đã được lan tỏa mạnh mẽ trong môi trường học đường. Tinh thần này không còn dừng lại ở các hoạt động phong trào mà từng bước trở thành một nội dung của chương trình giáo dục. Hiện nay, hầu hết cơ sở giáo dục đại học và cao đẳng đều xây dựng kế hoạch hỗ trợ sinh viên khởi nghiệp. Điều đó đã tác động tích cực đến nhận thức của phụ huynh, thầy cô giáo, lãnh đạo nhà trường và chính học sinh - sinh viên.
Cùng đó, quy mô các dự án khởi nghiệp của học sinh - sinh viên tăng nhanh. Trong giai đoạn 2020 - 2024, cả nước ghi nhận khoảng 40.000 dự án khởi nghiệp của sinh viên và gần 9.000 dự án của học sinh được hình thành. Từ những ý tưởng được ươm tạo trong trường đại học, hàng trăm doanh nghiệp khởi nghiệp đã ra đời, cho thấy khả năng chuyển hóa ý tưởng thành sản phẩm, dịch vụ trên thị trường.
Hệ thống hỗ trợ KN&ĐMST trong các cơ sở giáo dục cũng ngày càng hoàn thiện. Gần 60% trường đại học đưa môn học về KN&ĐMST vào chương trình đào tạo, đồng thời thành lập các câu lạc bộ, quỹ hỗ trợ, không gian sáng tạo và vườn ươm khởi nghiệp dành cho học sinh - sinh viên. Đặc biệt, nhiều trường xây dựng cơ chế hỗ trợ và dịch vụ tư vấn khởi nghiệp cho sinh viên.
Các hoạt động thi đua và cuộc thi ý tưởng khởi nghiệp cũng được tổ chức sôi nổi, nổi bật là Ngày hội khởi nghiệp sinh viên Startup do Bộ GD&ĐT tổ chức. Chương trình thu hút hơn 480.000 lượt học sinh, sinh viên tham gia với gần 23.000 ý tưởng sáng tạo, trong đó nhiều dự án đoạt giải và tiếp tục nhận được hỗ trợ phát triển.
Nhìn tổng thể, kết quả quan trọng nhất của Đề án 1665 là nâng cao nhận thức và tinh thần khởi nghiệp trong học sinh - sinh viên, đồng thời góp phần hình thành hệ sinh thái KN&ĐMST trong các cơ sở giáo dục. Nhờ đó, nhiều ý tưởng khoa học của người học có cơ hội được thương mại hóa và ngày càng có nhiều bạn trẻ mạnh dạn đề xuất các giải pháp sáng tạo, các dự án khởi nghiệp ngay từ khi còn trên ghế nhà trường.
ThS Lê Nhật Quang. Ảnh: NVCC
- Trong những năm qua, theo ông phong trào học sinh - sinh viên khởi nghiệp đổi mới sáng tạo đã có những chuyển biến gì trong bối cảnh nhiều nghị quyết, luật về khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo được ban hành?
- Trong bối cảnh Luật Khoa học công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025 cùng các nghị quyết quan trọng của Trung ương như Nghị quyết 57-NQ/TW về phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo (năm 2024) và Nghị quyết 71-NQ/TW về giáo dục - đào tạo (năm 2025) được ban hành, phong trào khởi nghiệp của học sinh - sinh viên có nhiều chuyển biến rõ nét.
Trước hết, các dự án khởi nghiệp ngày càng có hàm lượng công nghệ cao. Tại nhiều sự kiện khởi nghiệp gần đây, đặc biệt là Ngày hội Khởi nghiệp năm 2025, nhiều nhóm sinh viên đã ứng dụng các công nghệ như IoT, dữ liệu lớn (Big Data) và trí tuệ nhân tạo (AI) để giải quyết các vấn đề xã hội và sản xuất. Xu hướng này cho thấy tinh thần đổi mới sáng tạo đang được thúc đẩy mạnh mẽ, phù hợp với định hướng phát triển công nghệ số và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia.
Một điểm đáng chú ý khác là sự mở rộng hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp. Theo định hướng của Nghị quyết 71-NQ/TW, nhiều trường đại học đã từng bước xây dựng các phòng thí nghiệm hiện đại, đồng thời phối hợp với doanh nghiệp đầu tư thiết bị và triển khai chương trình đào tạo theo chuẩn quốc tế. Nhờ đó, sinh viên có cơ hội tiếp cận và thực hành với các hệ thống công nghệ như robot, dây chuyền tự động hóa ngay trong quá trình học tập. Khi được trang bị cơ sở vật chất tốt và có sự đồng hành của doanh nghiệp, sinh viên hoàn toàn có thể bắt đầu từ những dự án nhỏ, sau đó phát triển sản phẩm thông qua các trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp trong trường.
Khung pháp lý cho hoạt động nghiên cứu và đổi mới sáng tạo cũng trở nên thông thoáng hơn. Luật Khoa học công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025 đã thiết lập nhiều cơ chế khuyến khích thử nghiệm sáng tạo, trong đó có quy định miễn trừ trách nhiệm pháp lý đối với các hoạt động thử nghiệm khoa học có kiểm soát.
Cùng với đó, Nghị quyết 57-NQ/TW xác định đổi mới sáng tạo là một trong những đột phá chiến lược, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi hơn về nguồn lực và thủ tục cho các hoạt động nghiên cứu. Những chính sách này giúp cả giảng viên và sinh viên yên tâm triển khai các ý tưởng, dự án khoa học, đồng thời dễ dàng tiếp cận nguồn hỗ trợ tài chính và các quỹ đầu tư khởi nghiệp.
Nhờ hệ thống chính sách đồng bộ, các chương trình khởi nghiệp trong học sinh - sinh viên ngày càng lan tỏa rộng khắp. Các ngày hội khởi nghiệp, hội chợ ý tưởng khoa học và cuộc thi sáng tạo được tổ chức thường xuyên ở nhiều cấp, từ Trung ương đến địa phương, tạo sân chơi và động lực cho học sinh - sinh viên.
Sinh viên giới thiệu sản phẩm tại một cuộc thi về khởi nghiệp tại TPHCM. Ảnh: Hà An
Mở rộng ở nhiều cấp, bậc học
- Đề án hỗ trợ học sinh - sinh viên khởi nghiệp giai đoạn 2026 - 2035 định hướng trang bị kiến thức, kỹ năng khởi nghiệp không chỉ ở bậc đại học mà mở rộng ra toàn bộ các bậc học. Theo ông, định hướng này có ý nghĩa gì?
- Định hướng trang bị kiến thức và kỹ năng khởi nghiệp cho học sinh - sinh viên từ bậc tiểu học đến đại học theo Quyết định số 336/QĐ-TTg có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của người học cũng như năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Có thể nhìn nhận định hướng này qua bốn khía cạnh chính.
Thứ nhất, góp phần hình thành và củng cố văn hóa, tư duy khởi nghiệp từ sớm. Giáo dục khởi nghiệp ở các bậc học thấp không nhằm mục tiêu sớm tạo ra doanh nhân, mà tập trung phát triển những phẩm chất như sáng tạo, tự tin, tinh thần chủ động và khả năng khởi xướng ý tưởng. Khi những phẩm chất này được hình thành từ sớm, học sinh sẽ có thái độ tích cực trước sự thay đổi và biết xem thất bại như một cơ hội học hỏi.
Thứ hai, xây dựng lộ trình phát triển năng lực khởi nghiệp một cách hệ thống. Ở bậc tiểu học, trọng tâm là khuyến khích trẻ giải quyết các vấn đề trong đời sống và phát triển sự tự tin. Ở bậc trung học, chương trình có thể tích hợp kiến thức với thực tiễn, giúp học sinh nhận diện các thách thức xã hội và rèn luyện tính kiên trì. Đến bậc đại học, giáo dục khởi nghiệp tập trung vào các kỹ năng chuyên sâu như xây dựng mô hình kinh doanh, gọi vốn và bảo hộ sở hữu trí tuệ.
Thứ ba, góp phần nâng cao động lực và chất lượng học tập. Khi kiến thức được gắn với các dự án thực tiễn và tạo ra giá trị cho cộng đồng, học sinh sẽ cảm nhận rõ ý nghĩa của việc học. Đồng thời, quá trình này cũng giúp phát triển các kỹ năng quan trọng như làm việc nhóm, giao tiếp và giải quyết vấn đề - những năng lực thiết yếu của thị trường lao động hiện đại.
Thứ tư, chuẩn bị nguồn nhân lực có khả năng thích ứng và dẫn dắt đổi mới sáng tạo. Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu biến động nhanh, giáo dục khởi nghiệp từ sớm giúp thế hệ trẻ có khả năng nhận diện cơ hội, tạo ra giá trị mới và tham gia giải quyết các thách thức về công nghệ, môi trường và xã hội.
Có thể nói, việc đưa nội dung khởi nghiệp vào toàn bộ các bậc học thể hiện sự chuyển dịch từ tư duy “giáo dục để tìm việc làm” sang “giáo dục để tạo ra giá trị”, qua đó góp phần hình thành thế hệ công dân năng động, sáng tạo và sẵn sàng đổi mới.
Sinh viên tham gia hoạt động về khởi nghiệp tại Trung tâm khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, Đại học Quốc gia TPHCM. Ảnh: IEC
- Chương trình hỗ trợ học sinh - sinh viên khởi nghiệp đặt ra một số chỉ tiêu về tỷ lệ các trường có hoạt động định hướng và trang bị kiến thức, kỹ năng khởi nghiệp. Theo ông, để đạt được mục tiêu này cần những nguồn lực nào?
- Để thực hiện hiệu quả mục tiêu trang bị kiến thức và kỹ năng khởi nghiệp cho học sinh từ bậc tiểu học đến THPT trong giai đoạn 2026 - 2030 theo Quyết định 336/QĐ-TTg, cần hội tụ bốn nhóm nguồn lực cốt lõi.
Trước hết là nguồn lực con người, đặc biệt là đội ngũ giáo viên và mạng lưới chuyên gia đồng hành. Giáo dục khởi nghiệp đòi hỏi chuyển từ phương pháp truyền thụ kiến thức sang kích hoạt tư duy và trải nghiệm. Vì vậy, giáo viên cần được bồi dưỡng phương pháp sư phạm theo hướng học qua hành động để có thể tích hợp nội dung khởi nghiệp vào các môn học. Đồng thời, việc huy động doanh nhân, cựu học sinh và chuyên gia tham gia cố vấn sẽ giúp học sinh tiếp cận những hình mẫu thực tế, từ đó củng cố niềm tin vào khả năng của bản thân.
Thứ hai là nguồn lực chương trình và phương pháp giáo dục. Nội dung cần được thiết kế theo lộ trình phù hợp với từng cấp học. Ở cấp tiểu học và THCS, trọng tâm là phát triển sự sáng tạo, tinh thần chủ động và khả năng giải quyết vấn đề thông qua các dự án nhỏ gắn với cộng đồng. Đến bậc THPT, học sinh có thể tiếp cận sâu hơn với các kỹ năng như xây dựng ý tưởng kinh doanh, hiểu biết về tài chính, sở hữu trí tuệ và quản lý dự án. Phương pháp triển khai nên ưu tiên học qua trải nghiệm, học qua dự án và giải quyết các vấn đề thực tiễn.
Thứ ba là nguồn lực tài chính và cơ sở vật chất. Bên cạnh ngân sách Nhà nước, cần huy động thêm nguồn lực từ doanh nghiệp và hệ sinh thái khởi nghiệp. Các quỹ hỗ trợ, giải thưởng cho ý tưởng sáng tạo sẽ tạo động lực để học sinh thử nghiệm các sáng kiến mới. Đồng thời, các trường cần từng bước xây dựng không gian đổi mới sáng tạo, phòng chế tạo hoặc nền tảng học tập số nhằm hỗ trợ quá trình học tập và phát triển sản phẩm.
Cuối cùng nguồn lực kết nối và cơ chế chính sách. Giáo dục khởi nghiệp chỉ phát huy hiệu quả khi có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, doanh nghiệp và cơ quan quản lý. Doanh nghiệp có thể tham gia thông qua hoạt động thực tập, trải nghiệm thực tế hoặc phản biện các dự án của học sinh. Đồng thời, cần xây dựng hệ thống đánh giá tác động với các chỉ số cụ thể nhằm đo lường sự thay đổi về tư duy và kỹ năng của học sinh, thay vì chỉ dừng lại ở số lượng hoạt động hay cuộc thi. Khi các nguồn lực này được kết nối hiệu quả, giáo dục khởi nghiệp trong trường phổ thông sẽ góp phần tạo ra giá trị thực chất, qua đó hình thành thế hệ trẻ năng động, sáng tạo và sẵn sàng đổi mới.
Chương trình hỗ trợ học sinh - sinh viên khởi nghiệp mới ban hành đặt mục tiêu trong giai đoạn 2026 - 2030 có 50% học sinh THPT, 25% học sinh THCS và 15% học sinh tiểu học được định hướng khởi nghiệp. Đồng thời, có 35% học sinh trung học phổ thông, 15% học sinh trung học cơ sở và 10% học sinh tiểu học được trang bị kiến thức, kỹ năng và tư duy khởi nghiệp.