Theo Mục 2 Phần III Khung ban hành kèm Quyết định 2650/QĐ-BGDĐT, nội dung giáo dục khởi nghiệp kinh doanh dành cho học sinh, sinh viên được xây dựng trên 7 trục năng lực chung. Đây là căn cứ định hướng nội dung, phương pháp tổ chức và đánh giá theo minh chứng, đồng thời bảo đảm tính liên thông giữa giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.
Trục thứ nhất là nhận diện cơ hội và bối cảnh, yêu cầu người học biết tìm hiểu, phân tích bối cảnh, đánh giá thông tin, phân biệt dữ kiện với giả định, nhận diện nhu cầu, vấn đề thực tiễn và cơ hội tạo giá trị.
Trục thứ hai là sáng tạo và ý tưởng tạo giá trị, tập trung vào khả năng đề xuất sản phẩm, dịch vụ hoặc giải pháp tạo giá trị cho người dùng, khách hàng, cộng đồng hoặc xã hội.
Trục thứ ba là lập kế hoạch khởi nghiệp, gồm việc xác định mục tiêu, hoạt động, tiến độ, nhiệm vụ, nguồn lực và tiêu chí đánh giá. Trục thứ tư là thử nghiệm và thích ứng, hướng tới việc thiết kế, thử nghiệm sản phẩm mẫu, mô hình hoặc giải pháp; kiểm chứng giả định, thu thập phản hồi và cải tiến dựa trên minh chứng.
Trục thứ năm là huy động và tối ưu nguồn lực. Người học được định hướng sử dụng nhân lực, tài chính, vật liệu, thời gian, thông tin, tri thức, dữ liệu, công cụ số và trí tuệ nhân tạo một cách tiết kiệm, hiệu quả, minh bạch, an toàn và đúng pháp luật.
Trục thứ sáu là hợp tác, giao tiếp và quản trị, bao gồm làm việc nhóm, phân công nhiệm vụ, theo dõi tiến độ, thuyết trình, phản biện và xử lý bất đồng.
Trục cuối cùng là đạo đức và trách nhiệm xã hội, yêu cầu người học hành động trung thực, minh bạch, tuân thủ pháp luật, tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ, bảo vệ dữ liệu cá nhân và cân nhắc tác động xã hội, môi trường của dự án.
Cũng theo Mục 2 Phần III Quyết định 2650/QĐ-BGDĐT, tư duy phản biện được phát triển xuyên suốt 7 trục năng lực thông qua việc đặt câu hỏi, phân biệt dữ kiện với giả định và ý kiến, đánh giá độ tin cậy của thông tin và bằng chứng, xem xét các phương án, lập luận và phản biện có căn cứ, đồng thời điều chỉnh nhận định, giải pháp hoặc quyết định trên cơ sở dữ liệu và phản hồi phù hợp với lứa tuổi, cấp học, trình độ đào tạo. Tinh thần chủ động, kiên trì, khả năng học từ trải nghiệm, ứng phó với sự không chắc chắn và điều chỉnh trước thay đổi được phát triển xuyên suốt các trục năng lực ở mức độ phù hợp với lứa tuổi, cấp học và trình độ đào tạo.
Biểu hiện của 7 trục năng lực được cụ thể hóa trong từng hợp phần của Khung.Khung không yêu cầu người học ở các cấp học và trình độ đào tạo khác nhau phải đạt cùng một mức độ năng lực.
Tên gọi 7 trục năng lực chung được sử dụng thống nhất trong toàn Khung nhằm bảo đảm tính liên thông giữa các cấp học, trình độ đào tạo. Tên chuyên đề, mô-đun và cách diễn đạt nội dung ở từng cấp học, trình độ đào tạo có thể điều chỉnh phù hợp với lứa tuổi, ngành, nghề, chuẩn đầu ra và hình thức tổ chức; việc điều chỉnh không làm thay đổi nội hàm cốt lõi của 7 trục năng lực chung.
Đối với giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học, cơ sở giáo dục cụ thể hóa 7 trục năng lực gắn với ngành, nghề đào tạo, chuẩn đầu ra, hoạt động thực hành, thực tập, dự án học tập, sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh, đổi mới sáng tạo và kết nối doanh nghiệp.