xuân

Hội nhập chủ động, định vị chiến lược: Bước chuyển mới của giáo dục đại học

Theo bà Nguyễn Thu Thủy - Cục trưởng Cục Hợp tác quốc tế (Bộ GD&ĐT), thành công tại APAIE không dừng ở các thỏa thuận hợp tác, mà là bước chuyển từ tham gia sang đồng kiến tạo không gian học thuật khu vực, hướng tới mục tiêu trở thành trung tâm giáo dục của châu Á - Thái Bình Dương.

Từ “quan sát viên” đến đối tác chiến lược

- Sau APAIE 2026, bà đánh giá như thế nào về vị thế và mức độ hiện diện của giáo dục đại học Việt Nam trên bản đồ học thuật khu vực châu Á - Thái Bình Dương?

- Về vị thế của giáo dục đại học Việt Nam sau APAIE 2026, tôi cho rằng chúng ta đang đứng trước một bước ngoặt quan trọng trên bản đồ học thuật khu vực ASEAN và khu vực rộng lớn hơn.

Trong lăng kính của hàng ngàn đại biểu khối hàn lâm quốc tế, Việt Nam không còn tham gia như thường thấy với vai trò “quan sát viên” mà đã khẳng định vị thế của một đối tác chiến lược đầy tiềm năng, dựa trên nền tảng thị trường giáo dục năng động với quy mô dân số hơn 100 triệu dân và 2,5 triệu học sinh, sinh viên.

Với cơ cấu dân số vàng và tinh thần hiếu học truyền thống, Việt Nam đang sở hữu một nhu cầu học thuật khổng lồ, minh chứng qua con số khoảng 200.000 du học sinh đang học tập tại nước ngoài và gần 500 chương trình liên kết quốc tế tại nội địa.

Sự sẵn sàng chi trả của các gia đình Việt cho giáo dục chất lượng cao, kết hợp với nền chính trị ổn định và tốc độ tăng trưởng GDP ấn tượng, đã tạo nên một “sức hút thị trường” mạnh mẽ. Điều này khiến các đại học quốc tế, nhất là các đại học uy tín, chủ động tìm đến chúng ta để thiết lập quan hệ đối tác lâu dài, định vị Việt Nam như một nhân tố mới đang nổi lên để định hình lại dòng chảy học thuật trong khu vực ASEAN và châu Á - Thái Bình Dương.

Sự kiện lần đầu tiên Việt Nam có Gian hàng quốc gia (Vietnam Pavilion) tại APAIE 2026 đã toát lên thông điệp mạnh mẽ về sự chủ động hội nhập và tạo được niềm tin sâu sắc cho các đối tác quốc tế.

Hệ thống giáo dục đại học của Việt Nam không ngừng lớn mạnh cả về chất và lượng, các trường đại học không chỉ triển khai các hoạt động hợp tác quốc tế, mà đã dần hướng đến các chiến lược về quốc tế hóa, hội nhập quốc tế một cách toàn diện và hiệu quả.

Các trường tới với APAIE để tăng cường phát triển các mối quan hệ hợp tác hai chiều trong đào tạo, nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, đẩy mạnh việc thu hút sinh viên, giảng viên, chuyên gia quốc tế đến với Việt Nam. Có thể nhìn nhận trong 5 năm tới, khi Việt Nam dự kiến có cơ hội sẽ là chủ nhà của APAIE 2030, nền giáo dục đại học của chúng ta sẽ còn nhiều cơ hội để vươn cao và xa hơn nữa so với hiện nay.

- Bà có thể chia sẻ những tín hiệu tích cực nổi bật cho thấy sự chuyển biến nào trong uy tín và năng lực hội nhập của các cơ sở giáo dục Việt Nam?

- Những tín hiệu tích cực tại APAIE 2026, đặc biệt là sức hút của Gian hàng quốc gia “Study in Viet Nam”, phản ánh sự chuyển biến vượt bậc về uy tín và năng lực hội nhập của các cơ sở giáo dục đại học trong nước cũng như sự nhanh nhạy và sẵn sàng hỗ trợ của các cơ quan quản lý Nhà nước như Bộ GD&ĐT cùng các cơ quan chủ quản khác.

Với hơn 400 cuộc làm việc B2B thực chất và hàng chục biên bản ghi nhớ hợp tác chiều sâu, cùng các nội dung hợp tác rõ ràng, chúng ta thấy rõ xu hướng dịch chuyển từ các thỏa thuận khung sang các nội dung cụ thể như hợp tác đào tạo, nghiên cứu khoa học và trao đổi sinh viên, giảng viên, phối hợp khai thác các dự án, các nguồn tài trợ quốc tế…

Việc các đại học lớn của chúng ta trực tiếp ký kết với các đối tác thuộc Top 100 thế giới cho thấy năng lực đàm phán và trình độ quản trị đại học của Việt Nam đã tiệm cận với các chuẩn mực quốc tế.

Sự hiện diện chuyên nghiệp dưới một thương hiệu quốc gia đồng nhất không chỉ nâng cao độ nhận diện mà còn khẳng định khả năng cung ứng nguồn nhân lực trình độ cao, đáp ứng được các tiêu chuẩn khắt khe của thị trường lao động toàn cầu, từ đó xây dựng “lòng tin chiến lược” bền vững với các học giả và tổ chức giáo dục tinh hoa trên thế giới.

Trong các phiên thảo luận, đại diện Ban lãnh đạo APAIE đã nhận định: “Việt Nam là một trong số ít các quốc gia duy trì được sự kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế bền vững và ổn định chính trị - xã hội”. Đây là nền tảng cốt lõi để các nhà đầu tư giáo dục quốc tế yên tâm thiết lập các dự án dài hạn. Chính trị ổn định và thị trường mở cửa một cách phù hợp luôn được ghi nhận từ các tổ chức quốc tế.

Tiến sĩ Christine Choi Yuk-lin – Trưởng Giáo dục Đặc khu Hành chính Hồng Kông, nhấn mạnh: “Việt Nam đang nổi lên như một nhân tố quan trọng định hình lại dòng chảy học thuật tại ASEAN, đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục đại học, Việt Nam là một quốc gia đang phát triển đầy năng động”.

“Ngoại giao giáo dục” - mũi nhọn nâng vị thế quốc gia

- Theo bà, đâu là những điểm mạnh cốt lõi giúp giáo dục Việt Nam nâng cao vị thế tại các diễn đàn học thuật quốc tế, và đâu là những hạn chế cần sớm khắc phục?

- Điểm mạnh cốt lõi giúp giáo dục Việt Nam nâng cao vị thế chính là sự giao thoa giữa một thị trường giáo dục đầy tiềm năng và các chính sách hội nhập cởi mở, tạo hành lang an toàn cho đầu tư giáo dục lâu dài. Chúng ta sở hữu thế hệ sinh viên trẻ tài năng, thích ứng nhanh với công nghệ, điều mà các đối tác từ Hồng Kông hay Úc đều đánh giá rất cao.

Tuy nhiên, khi đối sánh với các nền giáo dục phát triển, chúng ta cần thẳng thắn nhìn nhận những hạn chế về hệ thống dịch vụ hỗ trợ sinh viên quốc tế và tỷ lệ các chương trình đào tạo bằng tiếng Anh còn chưa tương xứng.

Để thu hút dòng chảy sinh viên quốc tế ngược về Việt Nam, việc chuyên nghiệp hóa các dịch vụ từ visa đến lưu trú và số hóa hồ sơ năng lực học thuật là những bài học kinh nghiệm xương máu cần sớm được thực thi.

Chúng ta cần một bộ dữ liệu hệ thống chuẩn hóa để đàm phán một cách cạnh tranh và minh bạch hơn, từ đó khắc phục khoảng cách về tiêu chuẩn dịch vụ và hạ tầng hỗ trợ so với các trung tâm giáo dục lớn trong khu vực.

- Theo bà, những định hướng hoặc giải pháp chiến lược nào cần được triển khai để tiếp tục nâng tầm thương hiệu giáo dục Việt Nam trong khu vực và trên trường quốc tế từ kết quả APAIE 2026?

- Từ kết quả của APAIE 2026, Bộ GD&ĐT xác định giải pháp chiến lược là đẩy mạnh “Ngoại giao giáo dục” như một mũi nhọn tương đương với ngoại giao kinh tế hay ngoại giao văn hóa để mở rộng sức ảnh hưởng quốc gia.

Bộ đã và đang tích cực, chủ động xây dựng các kế hoạch thực thi những nhiệm vụ hội nhập quốc tế khó khăn nhất, không ngại đối mặt với thách thức để nâng tầm vị thế giáo dục nước nhà. Chúng ta đang làm việc chặt chẽ với các đối tác toàn cầu để “trải thảm đỏ” đón các sự kiện giáo dục tầm cỡ về Việt Nam, hướng tới mục tiêu đăng cai APAIE vào những năm sắp tới.

Qua trao đổi với Giáo sư Venky Shankararaman - Chủ tịch APAIE, ông đánh giá rất cao khả năng Việt Nam đăng cai sự kiện này vào năm 2029 hoặc 2030. Để thực hiện điều đó cũng như chủ trì các sự kiện tương tự trên lãnh thổ Việt Nam, chúng ta không chỉ cần chuẩn bị về hạ tầng, dịch vụ, chất lượng đào tạo các bậc học mà còn về tầm nhìn chiến lược.

Yếu tố quan trọng nhất là chúng ta phải không ngừng nâng cao năng lực của hệ thống giáo dục đại học bởi chính các trường đại học Việt Nam phải là những chủ thể nòng cốt, đủ nội lực để thực sự thu hút các đối tác quốc tế đến Việt Nam để tìm kiếm thị trường và cơ hội hợp tác, các trường cũng cần đủ mạnh để đồng tổ chức các phiên thảo luận chuyên môn đẳng cấp quốc tế.

Định hướng chiến lược còn phải gắn liền với nhu cầu nguồn nhân lực trình độ cao trong 5 năm tới, đặc biệt là các ngành công nghệ số, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, vật liệu mới… đòi hỏi hệ thống giáo dục phải chuyển mình để cung ứng kịp thời cho nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng GDP cao. Việt Nam đặt mục tiêu trở thành một “Education Hub” thực thụ, không chỉ để giữ chân nguồn lực trong nước mà còn để “xuất khẩu giáo dục” tại chỗ, thu hút trí tuệ quốc tế.

- Xin cảm ơn bà!

“Thành công của Đoàn Việt Nam tại Hội nghị và Triển lãm APAIE lần này chính là cú hích để toàn hệ thống giáo dục đại học Việt Nam chuẩn hóa theo các tiêu chuẩn khắt khe nhất, tạo ra lợi ích kép về cả kinh tế, ngoại giao và khẳng định vị thế văn hóa dân tộc trên trường quốc tế”, bà Nguyễn Thu Thủy nhận định.