xuân

Giáo dục và đào tạo: Trụ cột phát triển trong kỷ nguyên mới

Gỡ “điểm nghẽn”

Theo GS.TSKH Nguyễn Đình Đức – Viện trưởng Viện Công nghệ tiên tiến và Trí tuệ nhân tạo (Trường Đại học Hùng Vương TP Hồ Chí Minh), những năm qua, giáo dục và đào tạo Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu quan trọng, đóng góp tích cực vào phát triển nguồn nhân lực và nâng cao dân trí.

Tuy nhiên, thực tế vẫn tồn tại sự chênh lệch đáng kể về chất lượng và điều kiện học tập giữa các vùng miền, đặc biệt giữa khu vực đô thị với nông thôn, miền núi, vùng sâu, xa. Để tinh thần “giáo dục là quốc sách hàng đầu” theo Nghị quyết số 71-NQ/TW đi vào cuộc sống, điều cốt lõi là bảo đảm công bằng về cơ hội tiếp cận giáo dục và chất lượng đào tạo cho mọi người học.

Phân tích thực trạng, GS.TSKH Nguyễn Đình Đức chỉ ra ba “điểm nghẽn” lớn cần sớm tháo gỡ. Thứ nhất, hạ tầng giáo dục, nhất là hạ tầng số, chưa đồng đều giữa các địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng triển khai các mô hình dạy học hiện đại. Thứ hai, nguồn nhân lực giáo viên còn mất cân đối, thiếu giáo viên giỏi ở các vùng khó khăn. Thứ ba, chính sách đầu tư cho giáo dục còn dàn trải, manh mún, thiếu trọng tâm, trọng điểm.

Theo ông, cần có những đột phá mạnh mẽ trong đầu tư hạ tầng số, đào tạo và bồi dưỡng giáo viên; tăng cường ứng dụng công nghệ, phát triển các mô hình giáo dục linh hoạt; đồng thời xây dựng chính sách thu hút, đãi ngộ đủ sức hấp dẫn để giáo viên yên tâm công tác lâu dài ở vùng khó khăn. Khi đó, giáo dục mới thực sự trở thành quốc sách hàng đầu và từng bước thu hẹp khoảng cách chất lượng giữa các vùng miền.

Kiến tạo nền giáo dục hiện đại, hội nhập

Bàn về hội nhập quốc tế, GS.TSKH Nguyễn Đình Đức khẳng định, đây là xu thế tất yếu và thước đo năng lực của nền giáo dục hiện đại. Tuy nhiên, Việt Nam hiện chưa phải điểm đến hấp dẫn đối với các nhà khoa học hàng đầu thế giới. Để các trường đại học trở thành trung tâm khoa học – công nghệ tầm khu vực, cần những chính sách đột phá và thực chất.

Theo ông, có bốn hướng đi then chốt. Một là, xây dựng môi trường học thuật và nghiên cứu quốc tế hóa thực chất, tạo điều kiện cho chuyên gia quốc tế tham gia giảng dạy, nghiên cứu, công bố chung, trong đó tiếng Anh dần trở thành ngôn ngữ làm việc ở các chương trình tiên tiến.

Hai là, cải cách cơ chế tài chính, tập trung đầu tư hình thành các trung tâm xuất sắc với trang thiết bị hiện đại và cơ chế vận hành linh hoạt. Ba là, mở rộng quyền tự chủ trong hợp tác quốc tế và quản trị nhân sự, cho phép các trường chủ động ký kết, trả lương cạnh tranh, mời giáo sư thỉnh giảng.

Bốn là, xây dựng thương hiệu học thuật thông qua công bố khoa học, xếp hạng và các sản phẩm khoa học – công nghệ có giá trị thực tiễn. Khi đó, giáo dục Việt Nam không chỉ “tham gia hội nhập”, mà còn có thể từng bước “định hình hội nhập” trong chuỗi tri thức toàn cầu.

Tầm nhìn chiến lược đến năm 2030 đặt mục tiêu đưa Việt Nam trở thành Trung tâm Giáo dục và Nghiên cứu chất lượng cao của khu vực châu Á. Để hiện thực hóa mục tiêu này, PGS.TS Trần Hoài An – Chủ tịch Hội đồng Học viện Hàng không Việt Nam, nhìn nhận yếu tố then chốt là thu hút và giữ chân đội ngũ chuyên gia khoa học, giáo dục trình độ cao trên thế giới, đặc biệt trong các lĩnh vực ưu tiên quốc gia.

Mục tiêu chiến lược là thu hút tối thiểu 100 chuyên gia hàng đầu quốc tế trong các lĩnh vực mũi nhọn như công nghệ bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI), năng lượng xanh và công nghệ kỹ thuật. Theo PGS.TS Trần Hoài An, các chính sách thu hút được đề xuất dựa trên ba trụ cột cốt lõi, nhằm tạo đột phá về thể chế, nguồn lực và môi trường học thuật.

Thứ nhất là cải cách thể chế về giấy phép lao động và cư trú. Theo đó, cần chuyển từ các thủ tục hành chính phức tạp sang cơ chế linh hoạt, thông thoáng hơn như cấp thẻ cư trú dài hạn từ 5 - 10 năm hoặc xem xét cấp quốc tịch Việt Nam cho chuyên gia chiến lược, qua đó tạo sự ổn định lâu dài để họ yên tâm cống hiến.

Thứ hai là chính sách đãi ngộ tài chính và vật chất mang tính cạnh tranh quốc tế. Cụ thể, xây dựng khung lương chuyên gia độc lập, không phụ thuộc hệ số lương Nhà nước; áp dụng ưu đãi thuế thu nhập cá nhân ở mức 0% trong 5 năm đầu đối với chuyên gia chiến lược; đồng thời bảo đảm các điều kiện làm việc, nhà ở, y tế và nghiên cứu ở mức cao.

Thứ ba là xây dựng môi trường học thuật cởi mở, hiện đại, gắn với trao quyền tự chủ toàn diện về nhân sự và tài chính cho các cơ sở giáo dục, nghiên cứu, nhằm tạo không gian cạnh tranh, sáng tạo và phát triển bền vững.

tru-cot-phat-trien-trong-ky-nguyen-moi.jpg Sinh viên Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội. Ảnh: TG

Xây dựng hệ sinh thái giáo dục – khoa học

Nhấn mạnh, “giáo dục và đào tạo không chỉ là lĩnh vực then chốt, mà đã trở thành điều kiện sống còn của dân tộc Việt Nam”, GS.TSKH Dương Quý Sỹ – Ủy viên Hội đồng Quốc gia Giáo dục và Phát triển nhân lực, cho rằng đất nước ta đang đứng trước một yêu cầu mang tính lịch sử: Phát triển toàn diện tiềm năng trí tuệ dân tộc, khơi dậy sức mạnh văn hóa, giáo dục con người Việt Nam để hội nhập sâu rộng với thế giới, cạnh tranh bằng khoa học, công nghệ và sáng tạo. Trong bối cảnh đó, giáo dục chính là nền móng căn bản để dân tộc Việt Nam vươn mình, sánh vai cùng các quốc gia tiên tiến trong kỷ nguyên mới.

Theo GS.TSKH Dương Quý Sỹ, trên nền tảng hơn một thập kỷ thực hiện Nghị quyết về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XIV của Đảng đã đặt ra những yêu cầu cao hơn, mang tầm chiến lược dài hạn: Kiến tạo một nền giáo dục Việt Nam hiện đại, công bằng, tiên tiến, hội nhập sâu vào không gian tri thức toàn cầu, đủ năng lực đáp ứng mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2045.

Dự thảo tiếp tục khẳng định rõ ràng tầm nhìn nhất quán của Đảng: Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, động lực của phát triển, nền tảng để xây dựng một quốc gia “phát triển, phồn vinh, hạnh phúc”.

Phân tích sâu hơn, GS.TSKH Dương Quý Sỹ cho rằng, tư tưởng chủ đạo xuyên suốt văn kiện là định hình nền giáo dục “chuẩn hóa – hiện đại hóa – dân chủ hóa – hội nhập quốc tế”, có khả năng thích ứng linh hoạt với những xu thế lớn của thời đại như chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, tự chủ đại học và phát triển hệ sinh thái học tập suốt đời.

Đây không chỉ là sự kế thừa các chủ trương trước đó, mà còn thể hiện bước phát triển mới trong tư duy chiến lược của Đảng về giáo dục trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt.

Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV, theo GS.TSKH Dương Quý Sỹ đã thể hiện rõ tầm nhìn trí tuệ và bản lĩnh chính trị của Đảng trong việc xác lập những quyết sách chiến lược mang tính đột phá, cách mạng đối với giáo dục và đào tạo.

Điểm nổi bật là đặt con người Việt Nam vào vị trí trung tâm của mọi chiến lược phát triển giáo dục; coi nhà trường là cái nôi hình thành tri thức, còn xã hội là môi trường nuôi dưỡng nhân cách, đạo đức, lối sống. Trên nền tảng đó, văn kiện hướng tới khơi dậy khát vọng cống hiến, tinh thần trách nhiệm với cộng đồng và năng lực sáng tạo của thế hệ trẻ – lực lượng quyết định tương lai dân tộc.

GS.TSKH Dương Quý Sỹ đặc biệt nhấn mạnh, dự thảo văn kiện đã khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, khát vọng vươn lên, ý chí tự cường và năng lực sáng tạo của dân tộc; đồng thời định hướng rõ ràng việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, trọng dụng nhân tài, xây dựng đội ngũ trí thức và lực lượng khoa học – công nghệ tiên phong, đủ sức đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và chuyển đổi xanh của nền kinh tế.

“Giáo dục không chỉ là nhiệm vụ phát triển, mà còn gắn liền với bảo vệ Tổ quốc và nền tảng tư tưởng của Đảng”, GS.TSKH Dương Quý Sỹ nêu quan điểm. Theo ông, nền giáo dục trong giai đoạn mới phải đào tạo được thế hệ trẻ có tri thức vững vàng, đạo đức trong sáng, trách nhiệm công dân cao, biết kết hợp hài hòa giữa phát triển cá nhân với lợi ích quốc gia, giữa hội nhập quốc tế với giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.

Nhìn về giai đoạn 2026 - 2030 và tầm nhìn đến năm 2045, giáo sư cho rằng, giáo dục Việt Nam cần được phát triển như hệ sinh thái tri thức mở, trong đó chuyển đổi số và AI không phải là mục tiêu tự thân, mà là công cụ để khai phóng năng lực con người, nuôi dưỡng tinh thần học tập suốt đời. Đó chính là con đường để Việt Nam hội nhập mà không hòa tan, sáng tạo mà không đánh mất bản sắc, phát triển nhanh nhưng bền vững – vì một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng và nhân ái.

Theo GS.TSKH Dương Quý Sỹ, những định hướng mới trong dự thảo Văn kiện Đại hội XIV không chỉ phản ánh tầm nhìn của thời đại, mà còn là yêu cầu cấp bách để tái thiết nền giáo dục Việt Nam, đưa giáo dục trở thành sức mạnh cốt lõi của quốc gia trong kỷ nguyên tri thức và chuyển đổi số. Nếu tri thức là tài nguyên vô tận, thì con người Việt Nam mãi là nguồn nguyên khí hùng cường của quốc gia.

Các định hướng, giải pháp mà dự thảo Văn kiện Đại hội XIV xác lập – từ hoàn thiện thể chế, đổi mới quản trị, phát triển đội ngũ nhà giáo tinh hoa, xây dựng hạ tầng số, đến mở rộng cơ hội học tập suốt đời – là nền tảng để đưa giáo dục Việt Nam vươn tầm khu vực và thế giới.

Tuy nhiên, tầm nhìn chiến lược ấy chỉ có thể trở thành hiện thực khi được gắn với quyết tâm chính trị mạnh mẽ, sự đầu tư tương xứng về nguồn lực con người, tinh thần hành động quyết liệt của Chính phủ và sự đồng lòng, chung sức của toàn xã hội.

“Mỗi nhà giáo, người học và từng công dân phải trở thành tác nhân của đổi mới, biến tri thức thành sức mạnh phát triển quốc gia, hiện thực hóa khát vọng Việt Nam hùng cường, thịnh vượng vào năm 2045” - GS.TSKH Dương Quý Sỹ gợi mở.

Để giáo dục thực sự trở thành động lực phát triển quốc gia, GS.TSKH Nguyễn Đình Đức nhấn mạnh, cần hệ thống thể chế đồng bộ, từ đầu tư hạ tầng, phát triển đội ngũ, đến cơ chế trọng dụng nhân tài và tự chủ đại học. Khi “trao quyền gắn với trách nhiệm”, “đãi ngộ gắn với giá trị sáng tạo” và “hội nhập gắn với bản sắc”, giáo dục Việt Nam mới có thể bước vào giai đoạn phát triển thực chất, bền vững và có vị thế trong khu vực.