Giá cà phê hôm nay 12/3/2026
Giá cà phê thế giới 'lao dốc' trên cả hai sàn London và New York.
Trên thị trường quốc tế, giá cà phê robusta và arabica đồng loạt giảm mạnh khi giới đầu tư đẩy mạnh bán ra, trong bối cảnh xuất khẩu cà phê Brazil suy giảm và chi phí vận tải toàn cầu tăng do căng thẳng tại Trung Đông.
Thị trường cà phê đảo chiều khi các quỹ đầu tư nhanh chóng cắt giảm vị thế mua vì cho rằng nguồn cung niên vụ tới có thể dồi dào hơn. Triển vọng về một vụ mùa bội thu tại Brazil là yếu tố hàng đầu được thị trường nhắc đến, trong khi những cơn mưa xuất hiện trong vài ngày qua đã làm dịu bớt những lo ngại sau đợt khô hạn gần đây tại quốc gia sản xuất cà phê lớn nhất thế giới.
StoneX dự báo sản lượng cà phê của nguồn cung số 1 thế giới (Brazil) sẽ tăng mạnh 13,5% lên 77 triệu bao. Trong đó, sản lượng arabica được dự báo tăng lên 47,2 triệu bao so với 36,5 triệu bao của năm nay, tương đương mức tăng 29%. Trong khi đó, Sucden Financial dự báo sản lượng arabica của Brazil đạt khoảng 47,5 triệu bao, cộng với khoảng 25 triệu bao robusta, tổng sản lượng cà phê của nước này có thể đạt 72,5 triệu bao.
Theo Reuters, giá cà phê arabica đã giảm mạnh trong phiên giao dịch vừa qua, khi triển vọng vụ mùa bội thu tại Brazil gây áp lực lên thị trường, trong khi các tín hiệu kỹ thuật cũng trở nên tiêu cực hơn.
Thị trường robusta có phần phức tạp hơn. Theo Sucden, nguồn cung của loại cà phê này vẫn đang ở trạng thái thắt chặt về mặt cấu trúc vào đầu năm 2026, mặc dù dòng chảy nguồn cung trong ngắn hạn đã cải thiện. Việt Nam đã xuất khẩu khoảng 10 triệu bao từ vụ thu hoạch mới và dự kiến còn thêm khoảng 16 triệu bao có thể xuất khẩu trong những tháng tới.
Giá cà phê arabica cũng đang chịu áp lực từ việc lượng tồn kho tăng lên mức cao nhất trong nhiều tháng qua. Tính đến ngày 10/3, tồn kho cà phê arabica trên sàn ICE đã tăng lên mức 564.626 bao, cao nhất trong 5 tháng. Còn với robusta, tồn kho robusta trên sàn ICE đã đạt mức cao nhất trong 3,5 tháng là 4.721 lô vào ngày 3/3, trước khi giảm trở lại còn 4.563 lô tính đến ngày 11/3.
Tuy nhiên, tỷ giá cũng đang tác động đáng kể đến quyết định bán hàng của nông dân Brazil. Đồng USD suy yếu so với đồng Real khiến lợi nhuận quy đổi giảm, trong khi nhiều nông hộ đang có điều kiện tài chính khá tốt nên không vội đẩy hàng ra thị trường. Điều này khiến nguồn cung xuất khẩu tạm thời bị siết lại.
Các chuyên gia của Ngân hàng Rabobank tiếp tục giữ nguyên dự báo dài hạn, cho rằng “cán cân cung – cầu trong niên vụ 2026-2027 sẽ lạc quan hơn, khi sản lượng arabica của Brazil tăng lên tạo ra một lượng dư cung đáng kể trên toàn cầu”. Điều này được cho là sẽ định hình lại khung tham chiếu cho các nhà đầu tư và người tham gia thị trường.
Theo dự báo của Rabobank, sản lượng toàn cầu có thể đạt khoảng 180 triệu bao lần đầu tiên, tăng thêm 8 triệu bao so với niên vụ 2025-2026. Nếu dự báo này chính xác, thị trường sẽ lần đầu dư cung sau 4 năm liên tiếp thiếu hụt trong giai đoạn 2021–2024 và đạt trạng thái cân bằng trong năm 2025.
Giá cà phê trong nước hôm nay 12/3 giảm mạnh 3.700 - 4.300 đồng/kg.
| Giá cà phê trong nước hôm nay (12/3) giảm mạnh 3.700 - 4.300 đồng/kg tại một số địa phương trọng điểm. (Đơn vị tính: VNĐ/kg)
(Nguồn: giacaphe.com) |
Ghi nhận của Báo Thế giới và Việt Nam, chốt phiên giao dịch ngày 11/3, giá cà phê robusta giảm mạnh, trên sàn ICE Futures Europe London kỳ hạn giao hàng tháng 5/2026 giảm 139 USD giao dịch tại 3.553 USD/tấn. Kỳ hạn giao hàng tháng 7/2026 giảm 130 USD, giao dịch tại 3.466 USD/tấn. Khối lượng giao dịch trung bình.
Giá cà phê arabica trên sàn ICE Futures US New York tiếp tục giảm, kỳ hạn giao hàng tháng 5/2026 giảm 8,4 Cent, giao dịch tại 287,40 Cent/lb. Kỳ hạn giao tháng 7/2026 giảm 7,9 Cent giao dịch tại 282,20 Cent/lb. Khối lượng giao dịch trung bình.
![]() |
| Giá nông sản hôm nay 12/3/2026: Giá cà phê 'lao dốc', thị trường sẽ dư cung? Kịch bản tác động xung đột tại Trung Đông đến xuất khẩu nông, lâm, thủy sản. |
Giá tiêu hôm nay 12/3/2026
Giá hồ tiêu trong nước không thay đổi nhiều so với ngày hôm trước.
Giá tiêu đang giao dịch trong khoảng 144.500 - 146.500 đồng/kg, giá giảm nhẹ 500 đồng/kg tại Gia Lai và Đồng Nai. Giao dịch cụ thể tại các địa phương ngày 12/3 hiện như sau:
Tỉnh Đắk Lắk, giá tiêu hôm nay được thu mua với mức 146.500 đồng/kg.
Tỉnh Gia Lai, giá tiêu hôm nay ở mức 144.500 đồng/kg, giảm 5000 đồng/kg.
Khu vực Đắk Nông (tỉnh Lâm Đồng), giá tiêu hôm nay được thu mua với mức 146.500 đồng/kg.
Khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu (TP Hồ Chí Minh), giá tiêu hôm nay ở mức 150.000 đồng/kg.
Tỉnh Đồng Nai, giá tiêu hôm nay ở mức 144.000 đồng/kg, giảm 5000 đồng/kg; khu vực Bình Phước giá tiêu hôm nay được thu mua với mức 144.000 đồng/kg, giảm 5000 đồng/kg.
| Giá tiêu thế giới mới nhất được cập nhật từ Hiệp hội Hồ tiêu quốc tế (Nguồn: giacaphe.com).
|
Các vùng chuyên canh hồ tiêu trong nước bắt đầu vào vụ thu hoạch rộ. Theo TTTX, vụ tiêu năm nay không chỉ mang lại nguồn thu đáng kể mà còn thắp lên niềm tin cho nông dân sau nhiều năm đối mặt với biến động giá cả và thời tiết. Trong bối cảnh thị trường dần khởi sắc, cùng định hướng phát triển bền vững của ngành nông nghiệp, cây hồ tiêu tiếp tục khẳng định vai trò là một trong những cây trồng chủ lực, góp phần ổn định đời sống và nâng cao thu nhập cho người dân vùng chuyên canh.
Giá gạo xuất khẩu hôm nay 12/3/2026
Giá gạo xuất khẩu đi ngang, theo thông tin từ Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA).
Giá gạo thơm xuất khẩu 5% tấm giá dao động ở 400 - 415 USD/tấn.
Giá gạo Jasmine xuất khẩu giá dao động 430 - 434 USD/tấn.
Giá gạo 100% tấm dao động ở mức 316 - 320 USD/tấn.
Theo Bworldonline, số liệu từ Cục Công nghiệp Thực vật Philippines (BPI) cho thấy, tính đến ngày 26/2, nhập khẩu gạo của Philippines đạt 707.711 tấn, tăng 28,5% so với cùng kỳ năm trước. Khối lượng nhập khẩu lũy kế từ đầu năm đã vượt dự báo khoảng 600.000 tấn của Bộ Nông nghiệp (DA) cho hai tháng đầu năm. Trước đó, DA đã kêu gọi các thương nhân và nhà nhập khẩu giữ lượng nhập khẩu khoảng 300.000 tấn mỗi tháng. Việt Nam tiếp tục dẫn đầu nguồn cung cấp gạo cho Philippines trong 2 tháng đầu năm, với khối lượng đạt 622.483 tấn, tương ứng 87,96% tổng khối lượng nhập khẩu.
Câu chuyện thị trường xuất nhập khẩu
Tại họp báo thường kỳ sáng 11/3, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, những biến động từ xung đột tại Trung Đông có tác động nhất định đến hoạt động sản xuất, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam, trước hết là đối với các mặt hàng đang xuất khẩu sang khu vực này. Năm 2026 cũng được dự báo sẽ có nhiều biến động phức tạp hơn, đặc biệt là những tác động từ tình hình kinh tế thế giới, biến động thị trường và các rào cản thương mại ngày càng gia tăng.
Trên cơ sở những tác động từ xung đột tại Trung Đông, các cơ quan chuyên môn đã xây dựng một số kịch bản đối với hoạt động sản xuất, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản như sau:
Trong kịch bản xung đột kéo dài khoảng một tháng, tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam có thể bị ảnh hưởng khoảng 1 tỷ USD, chủ yếu do chi phí vận tải tăng và hoạt động thương mại tại khu vực Trung Đông bị gián đoạn.
Nếu xung đột kéo dài khoảng ba tháng, tác động sẽ rõ rệt hơn khi tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành có thể giảm khoảng 3 – 3,5 tỷ USD. Trong đó, xuất khẩu sang Trung Đông có thể giảm khoảng 500 – 600 triệu USD, xuất khẩu sang châu Âu giảm từ 1 – 1,6 tỷ USD do ảnh hưởng của chi phí logistics và chuỗi cung ứng, còn khu vực Bắc Phi có thể giảm khoảng 200 – 250 triệu USD.
Trong trường hợp xung đột kéo dài hơn, xuất khẩu sang Trung Đông có thể bị gián đoạn trong một số giai đoạn, trong khi kim ngạch xuất khẩu sang châu Âu và Bắc Phi cũng có thể giảm tới 50% do tác động lan tỏa của chi phí vận tải và gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, trong hai tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam sang Trung Đông đạt khoảng 216 triệu USD, bình quân mỗi tháng trên 100 triệu USD. Các mặt hàng chịu ảnh hưởng trực tiếp khi xung đột xảy ra gồm rau quả, cà phê, hạt điều, hạt tiêu và thủy sản.
Ngoài yếu tố thị trường, xung đột còn làm gia tăng chi phí bảo hiểm và vận tải tại các khu vực có rủi ro, gây áp lực lớn đối với chuỗi cung ứng, đặc biệt với những mặt hàng cần bảo quản lạnh như thủy sản và rau quả.
Tuy nhiên, theo các chuyên gia, ngành nông nghiệp vẫn có dư địa để linh hoạt điều chỉnh thị trường xuất khẩu. Bên cạnh Trung Đông, nhiều thị trường lớn như Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, ASEAN và châu Âu vẫn duy trì nhu cầu ổn định đối với nông sản Việt Nam. Việc tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do và mở rộng thị trường có thể giúp giảm thiểu tác động nếu xuất khẩu sang Trung Đông gặp khó khăn.
Các đơn vị chuyên môn hiện tiếp tục theo dõi sát diễn biến tình hình và cập nhật các kịch bản nhằm tham mưu giải pháp điều hành phù hợp, đồng thời khuyến nghị doanh nghiệp chủ động điều chỉnh kế hoạch sản xuất và xuất khẩu trong bối cảnh thị trường quốc tế nhiều biến động.
