Phù hợp yêu cầu thực tiễn
Tại dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Nhà giáo, Bộ GD&ĐT đề xuất nhiều chính sách hỗ trợ, thu hút, trọng dụng đối với nhà giáo. Trong đó, nhà giáo thuộc nhóm dân tộc thiểu số rất ít người tình nguyện đến công tác tại vùng khó khăn sẽ được hưởng phụ cấp 150% mức lương hiện hưởng trong 5 năm cùng nhiều ưu đãi khác như nâng bậc lương trước hạn và hỗ trợ nhà ở, nhằm thu hút và giữ chân nhân tài trong ngành giáo dục.
Từ thực tiễn công tác tại địa bàn miền núi, cô Phạm Thị Liên – giáo viên tiếng Anh, Trường THPT Vị Xuyên (Tuyên Quang) cho rằng, dự thảo Nghị định quy định chính sách tiền lương và chế độ phụ cấp đối với nhà giáo do Bộ GD&ĐT đang xây dựng là chủ trương cần thiết, nhân văn và phù hợp với thực tiễn hiện nay.
Việc đề xuất mức phụ cấp lên tới 150% lương trong thời hạn 5 năm, cùng các chính sách ưu đãi như nâng bậc lương trước hạn, hỗ trợ nhà ở, cho thấy sự quan tâm rõ ràng của Nhà nước đối với đội ngũ nhà giáo sẵn sàng tình nguyện đến công tác tại vùng khó khăn, đặc biệt giáo viên thuộc nhóm dân tộc thiểu số rất ít người.
Tỉnh Tuyên Quang hiện nay còn nhiều xã vùng cao, đồng bào dân tộc thiểu số, điều kiện đi lại, sinh hoạt và dạy học của giáo viên còn không ít hạn chế. Nhiều trường học ở khu vực xa trung tâm gặp khó khăn về cơ sở vật chất, nhà công vụ và hạ tầng công nghệ, trong khi yêu cầu đổi mới giáo dục ngày càng cao.
Cũng theo cô Liên, tại tỉnh Hà Giang (trước sáp nhập), nhiều xã vùng cao thuộc các huyện như Vị Xuyên, Đồng Văn, Mèo Vạc, Yên Minh hay Hoàng Su Phì có điều kiện dạy học đặc biệt gian khó, nhất là về nhà ở, giao thông và cơ hội tiếp cận các hoạt động bồi dưỡng chuyên môn.
Thầy Nguyễn Văn Hoàng và học trò. Ảnh: NVCC
“Nếu không có chính sách đãi ngộ đủ sức khuyến khích và mang tính dài hạn, việc thu hút giáo viên có năng lực và giữ chân đội ngũ tâm huyết tại các địa bàn này là thách thức lớn. Nếu có chính sách đãi ngộ đủ mạnh và ổn định sẽ là yếu tố quan trọng giúp giáo viên yên tâm công tác, gắn bó lâu dài thay vì chỉ coi vùng khó là điểm đến mang tính luân chuyển ngắn hạn”, cô Liên bày tỏ.
Thầy Hoàng Văn Quảng – giáo viên Trường Tiểu học Cảnh Tiên (Trùng Khánh, Cao Bằng) cho hay, các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thường là nơi “đi dễ khó về”. Việc áp dụng mức phụ cấp vượt trội này thể hiện sự ghi nhận xứng đáng của Nhà nước đối với những hy sinh thầm lặng của thầy cô khi rời xa gia đình, đối mặt với địa hình hiểm trở và thiếu thốn tiện nghi.
Nhà giáo là người dân tộc thiểu số rất ít người khi quay trở về hoặc đến công tác tại vùng khó khăn có lợi thế tuyệt đối về ngôn ngữ và văn hóa. Họ chính là những “đại sứ” kết nối giữa nhà trường với cộng đồng. Chính sách đãi ngộ cao giúp các thầy cô yên tâm cống hiến, giảm bớt gánh nặng kinh tế để tập trung vào chuyên môn giảng dạy.
Cô trò Trường THPT Vị Xuyên, Tuyên Quang trong một giờ học tiếng Anh. Ảnh: TG
Tránh tư duy “cào bằng” khen thưởng
Theo thầy Nguyễn Văn Hoàng – Hiệu trưởng Trường Tiểu học & THCS Kim Bôi (Kim Bôi, Phú Thọ), dự thảo quy định việc nâng bậc lương trước hạn sẽ là đòn bẩy về lộ trình thăng tiến nghề nghiệp. Khi được ghi nhận sớm hơn so với khung thời gian thông thường giúp nhà giáo cảm thấy nỗ lực của mình được định giá một cách công bằng và nhanh chóng.
Tại vùng khó khăn, chỗ ở luôn là nỗi lo thường trực. Việc đảm bảo nhà công vụ hoặc hỗ trợ kinh phí thuê nhà giúp giáo viên ổn định cuộc sống, coi vùng đất mới như quê hương thứ hai. Dự thảo cũng mở rộng đối tượng và mức hưởng phụ cấp ưu đãi nghề tùy theo bậc học và địa bàn, tạo ra một hệ thống thu nhập đa tầng, đảm bảo giáo viên có mức sống từ trung bình khá trở lên trong xã hội.
Dưới góc nhìn chuyên gia, PGS.TS Đặng Thị Thanh Huyền - nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý giáo dục (Học viện Quản lý Giáo dục) đánh giá cao chủ trương của Bộ GD&ĐT trong dự thảo lần này. Đây được kỳ vọng sẽ tạo ra một “cú hích” lớn nhằm thu hút người tài gắn bó với ngành Giáo dục bằng các chính sách đãi ngộ phù hợp.
Dù vậy, PGS.TS Đặng Thị Thanh Huyền kiến nghị Nhà nước phải cụ thể hóa các tiêu chí để nhà giáo được hưởng các chính sách nhân văn đó để tránh trục lợi. Ví dụ, cùng công tác ở vùng núi nhưng giáo viên phải tiếp cận nhanh với công nghệ và đáp ứng các yêu cầu cần có trong phát triển nghề nghiệp thì mới xứng đáng nhận được sự hỗ trợ đặc biệt 150%.
“Thầy cô phải thực sự sáng tạo, đổi mới tích cực trong giảng dạy, Nhà nước cần có sự khích lệ cho giáo viên cống hiến và đạt tiến bộ đột phá. Giả sử, thầy cô dạy được tiếng Anh trong các môn, dạy STEM ở vùng khó khăn mà đạt hiệu quả thì phải biểu dương bằng việc tăng phụ cấp thật xứng đáng. Chúng ta phải có sự phân loại giáo viên để hưởng chính sách một cách công bằng và minh bạch”, vị chuyên gia nhìn nhận.
Để chủ trương thực sự phát huy hiệu quả, theo cô Phạm Thị Liên, cần triển khai chính sách một cách đồng bộ, minh bạch và kịp thời, bảo đảm giáo viên được thụ hưởng đúng đối tượng, đúng thời gian.
Bên cạnh hỗ trợ tài chính, cần tiếp tục quan tâm đến điều kiện làm việc thực tế như đầu tư cơ sở vật chất trường lớp, nhà công vụ, hạ tầng công nghệ và tạo điều kiện cho giáo viên được bồi dưỡng, nâng cao năng lực chuyên môn. Đồng thời, nên có lộ trình phát triển nghề nghiệp rõ ràng để giáo viên sau thời gian cam kết công tác tại vùng khó có thêm cơ hội học tập, luân chuyển hoặc đảm nhận các vị trí chuyên môn phù hợp.
“Khi chính sách đãi ngộ được gắn chặt với môi trường làm việc và con đường phát triển nghề nghiệp của nhà giáo, tôi tin rằng giáo dục vùng khó ở Tuyên Quang và các địa phương miền núi khác sẽ có thêm nguồn lực chất lượng, góp phần thu hẹp khoảng cách giáo dục và bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục cho học sinh vùng cao”, cô Phạm Thị Liên - Trường THPT Vị Xuyên, Tuyên Quang chia sẻ.