xuân

"Đóa sen vàng trong lửa đỏ" Sài Gòn

(Chinhphu.vn) - Cuộc đời và sự nghiệp của Ni trưởng Huỳnh Liên (1923-1987) là hiện thân cho sự gắn kết máu thịt giữa đạo pháp và dân tộc, nơi lòng từ bi hỷ xả hòa quyện cùng lòng yêu nước và tinh thần dấn thân vì vận mệnh quốc gia.

Lễ ra mắt "Ủy ban Phụ nữ đòi quyền sống".

Tinh thần "phụng sự chúng sinh là cúng dường chư Phật"

Ni trưởng Huỳnh Liên, tên thật là Nguyễn Thị Trừ, sinh năm 1923 tại làng Phú Mỹ, Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang (nay là tỉnh Đồng Tháp), trong một gia đình nông dân Phật giáo. Năm 1943, tròn 20 tuổi, Nguyễn Thị Trừ bước chân vào cửa thiền tại Phật đường Minh Sư. Lớn lên trong cảnh đất nước bị thực dân Pháp đô hộ, cô gái trẻ Nguyễn Thị Trừ không thể làm ngơ trước những nghịch cảnh đau thương xảy ra hằng ngày quanh mình. Năm 1945, chịu ảnh hưởng từ tư tưởng cách mạng của người cậu, hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nguyễn Thị Trừ tham gia Mặt trận Việt Minh giành chính quyền tại địa phương.

Ngày 1/4/1947, Nguyễn Thị Trừ chính thức làm lễ xuất gia tại Linh Bửu Tự với pháp danh Huỳnh Liên, được đức Tổ sư truyền đạo trực tiếp và ủy thác sứ mệnh tiếp chúng độ ni. Khi Tổ sư vắng bóng, bà kế tục chí nguyện, dẫn dắt tập thể ni chúng theo con đường đạo pháp chân chính. Trong suốt hơn 40 năm, bà đã xây dựng thành công hệ thống 72 Tịnh xá của Ni giới Khất sĩ Việt Nam, quy tụ hàng nghìn ni chúng và hàng vạn tín đồ.

Những năm 1960, khi chính quyền Ngô Đình Diệm thực hiện chính sách kỳ thị và đàn áp Phật giáo tàn khốc, Ni trưởng Huỳnh Liên với tư cách người đứng đầu Ni giới Khất sĩ đã dấn thân vào phong trào đòi tự do tín ngưỡng, quyền dân sinh và dân chủ, lan tỏa mạnh mẽ trên khắp miền Nam. Lời thệ nguyện của bà đã trở thành kim chỉ nam cho cả một thế hệ tu sĩ dấn thân: "Nguyện xin hiến trọn đời mình/ Cho nguồn đạo pháp, cho tình quê hương".

Bước ngoặt đánh dấu sự phát triển toàn diện trong hoạt động yêu nước của Ni trưởng Huỳnh Liên là khi bà tham gia thành lập và giữ vai trò cố vấn cho phong trào "Phụ nữ đòi quyền sống" do luật sư Ngô Bá Thành làm Chủ tịch, ra mắt tại chùa Ấn Quang ngày 2/8/1970, trụ sở đặt tại Tịnh xá Ngọc Phương (Gò Vấp). Dưới sự trụ trì của Ni trưởng Huỳnh Liên, Tịnh xá Ngọc Phương trở thành một "địa chỉ đỏ": nơi hội họp của các đoàn thể yêu nước, điểm tựa che chở cán bộ và hậu phương cứu trợ dân nghèo. Phong trào Phụ nữ đòi quyền sống phát triển rất nhanh chỉ sau gần một năm thành lập, quy tụ trên 20 đoàn thể phụ nữ, trong đó lực lượng Phật tử là nòng cốt hết sức quan trọng.

Ngày 18/10/1970, Ni trưởng Huỳnh Liên gây tiếng vang lớn khi khởi xướng lễ "Xuống tóc vì hòa bình" dùng chính mái tóc của người tu sĩ làm vũ khí phản kháng chiến tranh. Không dừng lại ở đó, Ni trưởng Huỳnh Liên còn tích cực tham gia các hoạt động, phong trào sôi động: Từ mít tinh chống Mỹ đến việc công bố Bản tuyên ngôn 10 điểm về hòa bình, mở rộng mặt trận đoàn kết, thành lập các chi nhánh phong trào tại Cần Thơ, Trà Vinh, kết nối sức mạnh toàn miền Tây Nam Bộ.

Ni trưởng Huỳnh Liên tham gia xây dựng và lãnh đạo các tổ chức như Mặt trận Nhân dân Tranh thủ Hòa bình, Phong trào Đòi quyền sống cô nhi và trẻ em nạn nhân chiến tranh, Ủy ban Đòi cải thiện chế độ lao tù. Ni trưởng cùng với hệ thống Tịnh xá Ngọc Phương luôn là lực lượng xung kích trong các tổ chức đó. Đặc biệt, bà đã biến diễn đàn báo chí thành vũ khí sắc bén qua các buổi họp báo như: "Nhân dân đòi cơm áo, Phật giáo đòi Hòa bình" hay "Nông dân đòi quyền sống". Ni trưởng Huỳnh Liên là một trong những thành viên nòng cốt tham gia đấu tranh buộc địch phải trả tự do cho Luật sư Ngô Bá Thành, đồng thời phối hợp với đồng bào Công giáo tố cáo chính sách xâm lược của Mỹ ngay tại Nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế; sát cánh cùng sinh viên chống "quân sự hóa học đường"; đứng về phía công nhân Hãng pin Con Ó chống bóc lột. Cuối năm 1971, khi địch đàn áp khốc liệt bắt giam hàng loạt lãnh đạo phong trào, Ni trưởng đã dũng cảm nhận trách nhiệm tiếp tục chèo lái phòng trào đấu tranh.

Giai đoạn 1971 - 1975, Tịnh xá Ngọc Phương bị hàng rào kẽm gai phong tỏa, binh lính canh gác nghiêm mật ngày đêm. Ni trưởng Huỳnh Liên không nề hà nguy hiểm, nhiều lần băng qua hàng rào kẽm gai và súng đạn để cùng các ni sư ra trước Nhà hát lớn Sài Gòn đấu tranh. Hình ảnh Ni trưởng Huỳnh Liên dẫn đầu đoàn, cùng các ni sư trẻ nắm chặt tay nhau kết thành vòng tròn, dùng thân mình che chở cho những người mẹ, người vợ của tù chính trị trước vòi rồng áp lực mạnh đã trở thành biểu tượng bất khuất cho tinh thần đoàn kết đấu tranh của phụ nữ Việt Nam nói riêng, dân tộc Việt Nam nói chung. Nhân dân Sài Gòn đã cảm kích và tôn vinh Ni trưởng Huỳnh Liên là "Đóa sen vàng trong lửa đỏ".

Cuối năm 1974, trước sự bao vây gắt gao Tịnh xá Ngọc Phương nhằm giam lỏng, kìm hãm các hoạt động yêu nước và thủ tiêu phong trào, Ni trưởng quyết định dựng giàn hỏa thiêu dã chiến ngay trước cổng Tịnh xá. Đây là thông điệp quyết liệt gửi đến thế giới: Ni giới sẵn sàng hy sinh để bảo vệ chính nghĩa và quyền sống con người. Bà còn tham gia tổ chức những hoạt động độc đáo như "Ngày ký giả ăn mày" hay phong trào "Đọc báo nói cho đồng bào tôi nghe" giữa chợ Bến Thành. Tất cả đã tạo nên một sức mạnh tổng lực, khiến kẻ thù phải nhượng bộ trước những yêu sách chính đáng của nhân dân, góp phần làm nên ngày đại thắng của dân tộc ngày 30/4/1975.

Ni trưởng Huỳnh Liên (hàng 2, thứ 2 từ phải qua trái) tại lễ mít tinh mừng Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước 1/5/1975.

Tâm hồn thi sĩ nhạy cảm với ngòi bút tài hoa

Ni trưởng Huỳnh Liên còn là một tâm hồn thi sĩ nhạy cảm, một dịch giả uyên bác, dùng ngòi bút như một thứ vũ khí sắc bén, vừa chuyển tải triết lý Phật giáo đến bình dân đại chúng, vừa khơi dậy ngọn lửa yêu nước trong lòng mỗi người dân Việt Nam. Trong những năm tháng khói lửa, thơ ca của bà không chỉ dừng lại ở kinh kệ mà đã trở thành những lời hiệu triệu yêu nước mạnh mẽ:

"Giặc đến nhà đàn bà phải đánh,

Gương Hai Bà lấp lánh sao giăng.

Người nay phải chống xâm lăng

Phải giành độc lập cho bằng người xưa"

Bà khắc họa chân dung người phụ nữ Việt Nam với nét dịu dàng, hiền hòa của tâm Phật và sự bất khuất của dân tộc anh hùng:

"Phụ nữ Việt Nam dịu dàng nhưng bất khuất,

Sống hiền hòa nhưng cương quyết chống xâm lăng.

Mẹ sinh con truyền dòng máu anh hùng,

Mẹ dạy trẻ luyện tấm lòng ái quốc."

Khi non sông liền một dải, ngòi bút của Ni trưởng Huỳnh Liên trở thành bản hòa ca về sự hồi sinh và lòng vị tha, khuyến khích tăng ni, Phật tử tham gia sản xuất, làm kinh tế để tự túc và đóng góp cho công cuộc kiến thiết đất nước:

"Tay cầm cuốc, miệng niệm Nam mô

Đạo với đời đâu có phân chia

Xây đất nước cũng là xây đạo hạnh

Cho nhành sen nở ngát vạn tâm hồn."'

Đại diện Tịnh xá Ngọc Phương trao tặng kỷ vật của Ni trưởng Huỳnh Liên cho Bảo tàng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tháng 10/2025

Tiếng nói đại diện của nhân dân

Sau năm 1975, Ni trưởng Huỳnh Liên được tín nhiệm bầu làm Đại biểu Quốc hội khóa VI – khóa Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam thống nhất.

Không chỉ hoạt động trong nước, Ni trưởng còn mang thông điệp hòa bình của Việt Nam ra thế giới. Bà được cử tham dự nhiều diễn đàn quốc tế quan trọng như: Đại hội Phụ nữ Thế giới tại Berlin (Cộng hòa Dân chủ Đức), Đại hội Tôn giáo Thế giới vì hòa bình tại Moscow (Liên Xô cũ), tham quan và thắt chặt tình hữu nghị tại Mông Cổ. Tại các diễn đàn này, hình ảnh vị ni sư Việt Nam trong bộ huỳnh y giản dị đã trở thành nhịp cầu nối liền khát vọng hòa bình của dân tộc Việt Nam với thế giới.

Ngoài trọng trách Phật đạo, Ni trưởng còn đảm nhiệm nhiều vị trí quan trọng khác như: Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (khóa I và II), Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch Ủy ban Bảo vệ Hòa bình Thế giới Thành phố Hồ Chí Minh.

Ở bất cứ cương vị nào, Ni trưởng Huỳnh Liên cũng hoàn thành xuất sắc sứ mệnh của mình, vừa là chỗ dựa tinh thần cho ni giới, vừa là tiếng nói đại diện cho quyền lợi của nhân dân.

Ni trưởng Huỳnh Liên viên tịch vào ngày 16/4/1987 nhưng tinh thần "phụng sự chúng sinh là cúng dường chư Phật" tích cực, nhân văn của bà vẫn là ngọn đèn soi sáng cho nhiều thế hệ tăng ni, Phật tử và những người yêu chuộng hòa bình. Cuộc đời bà chính là biểu hiện sinh động cho khát vọng hòa bình, lòng bao dung và tinh thần tự lực, tự cường của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam thời đại mới./.

Thu Hoàn