Trong các vụ án kinh tế có nhiều bị cáo, sự khác biệt về vai trò, mức độ lỗi, hậu quả và các tình tiết liên quan có thể dẫn đến những mức hình phạt rất khác nhau, ngay cả khi những người này cùng bị xét xử theo một khoản của Bộ luật Hình sự. Đặc biệt, có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1 Điều 51 chưa đồng nghĩa với việc đương nhiên được xử dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đang áp dụng.

Ảnh minh họa. Nguồn: TAT Law Firm.
Điều 54 Bộ luật Hình sự cho phép Tòa án quyết định hình phạt dưới khung trong những trường hợp luật định. Đáng chú ý, Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP, có hiệu lực từ ngày 15/11/2025, hướng dẫn rằng khi áp dụng khoản 1 Điều 54, số tình tiết giảm nhẹ phải nhiều hơn số tình tiết tăng nặng từ hai tình tiết trở lên, trong đó có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ thuộc khoản 1 Điều 51. Tuy nhiên, ngay cả khi đáp ứng điều kiện này, việc xử dưới khung vẫn thuộc thẩm quyền cân nhắc của Tòa án trên cơ sở các căn cứ quyết định hình phạt.
Vấn đề đặt ra vì thế không chỉ là khi nào Tòa án có thể xử dưới khung, mà còn là vì sao cơ chế này được áp dụng đối với bị cáo này nhưng không áp dụng đối với bị cáo khác, và pháp luật cho phép giảm hình phạt đến giới hạn nào.
Điều 54 BLHS: Đủ tình tiết giảm nhẹ có đương nhiên được xử dưới khung?
Theo khoản 1 Điều 54 BLHS, khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51, Tòa án có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung đang áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật. Đây là cơ chế lượng hình đặc biệt, cho phép Tòa án vượt xuống dưới giới hạn tối thiểu của khung hình phạt đang áp dụng, song cách diễn đạt “có thể quyết định” cũng cho thấy việc đáp ứng điều kiện không đồng nghĩa với quyền đương nhiên được hưởng một mức án dưới khung.
Đáng chú ý, khoản 1 Điều 5 Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP hướng dẫn rằng khi áp dụng khoản 1 Điều 54, số tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phải nhiều hơn số tình tiết tăng nặng từ hai tình tiết trở lên, trong đó có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ thuộc khoản 1 Điều 51 BLHS. Hướng dẫn này làm rõ rằng việc xác định điều kiện xử dưới khung không chỉ dựa vào số lượng tình tiết giảm nhẹ mà còn phải đặt trong tương quan với các tình tiết tăng nặng đã được xác định hợp pháp.
Chẳng hạn, một bị cáo có ba tình tiết giảm nhẹ hợp lệ và hai tình tiết tăng nặng thì chênh lệch chỉ là một tình tiết, chưa đáp ứng yêu cầu về tương quan số lượng theo hướng dẫn nêu trên. Ngược lại, nếu có ba tình tiết giảm nhẹ và một tình tiết tăng nặng, chênh lệch đạt hai tình tiết, nhưng vẫn phải xác định ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ thuộc khoản 1 Điều 51 hay không; ngay cả khi đáp ứng yêu cầu này, Tòa án vẫn phải đánh giá các căn cứ lượng hình trước khi quyết định có xử dưới khung hay không.
Việc xác định tình tiết phải bắt đầu từ căn cứ pháp luật, bởi theo khoản 2 Điều 51 và khoản 2 Điều 52 BLHS, những tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng đã được Bộ luật quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được tiếp tục coi là tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng khi quyết định hình phạt. Đồng thời, những tình tiết được Tòa án xem xét theo khoản 2 Điều 51 không thể thay thế yêu cầu bắt buộc phải có ít nhất hai tình tiết thuộc khoản 1 Điều 51, dù vẫn có thể được cân nhắc trong phạm vi pháp luật cho phép.
Bên cạnh trường hợp thông thường tại khoản 1, Điều 54 còn thiết lập cơ chế riêng đối với một số tình huống đặc thù. Theo khoản 2, Tòa án có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung đang áp dụng mà không bắt buộc phải nằm trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể, vì vậy không thể suy rộng rằng cứ phạm tội lần đầu hoặc có vai trò thứ yếu thì được áp dụng quy định này.
Khoản 3 Điều 54 tiếp tục xử lý trường hợp điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung đang áp dụng là khung nhẹ nhất, theo đó khi đáp ứng điều kiện tại khoản 1 hoặc khoản 2, Tòa án có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hoặc chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn và phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án. Cũng cần lưu ý rằng hướng dẫn về tương quan số lượng tình tiết tại khoản 1 Điều 5 Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP được đặt ra đối với khoản 1 Điều 54, không thể mặc nhiên chuyển nguyên điều kiện này sang trường hợp đặc thù tại khoản 2.
Như vậy, Điều 54 xác định những điều kiện và giới hạn pháp lý của thẩm quyền xử dưới khung, nhưng việc Tòa án được phép sử dụng thẩm quyền ấy không đồng nhất với việc phải sử dụng trong mọi trường hợp đủ điều kiện. Sự phân biệt này có ý nghĩa trực tiếp đối với hoạt động lượng hình, bởi cùng đáp ứng điều kiện pháp lý chưa chắc đã dẫn đến cùng một quyết định về hình phạt.
Từ điều kiện xử dưới khung đến yêu cầu cá thể hóa hình phạt
Điều 50 BLHS quy định khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào các quy định của Bộ luật, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội cùng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong mối quan hệ đó, Điều 51 xác định các tình tiết giảm nhẹ, Điều 52 quy định các tình tiết tăng nặng, còn Điều 54 mở ra khả năng quyết định hình phạt dưới giới hạn tối thiểu của khung đang áp dụng, nhưng không thay thế những căn cứ quyết định hình phạt theo Điều 50.
Từ cấu trúc pháp luật hiện hành, có thể phân biệt ba vấn đề cần giải quyết khi xem xét xử dưới khung: trước hết là bị cáo có đáp ứng điều kiện tại khoản tương ứng của Điều 54 và hướng dẫn liên quan hay không; tiếp đó là những yếu tố về tính chất hành vi, mức độ trách nhiệm, nhân thân và các tình tiết khác có làm cho việc xử dưới khung trở thành lựa chọn phù hợp hay không; cuối cùng là mức hình phạt cụ thể nào tương xứng trong phạm vi pháp luật cho phép.
Đây là cấu trúc phân tích nhằm làm rõ mối quan hệ giữa điều kiện áp dụng Điều 54 và hoạt động lượng hình theo Điều 50, không phải ba điều kiện độc lập được pháp luật quy định thêm. Sự phân biệt này đặc biệt quan trọng khi nhiều bị cáo cùng đáp ứng điều kiện xử dưới khung nhưng có vai trò, mức độ lỗi, hậu quả và những tình tiết liên quan khác nhau.
Một người giữ vai trò quyết định trong việc thực hiện hành vi phạm tội, có mức độ lỗi cao hoặc hưởng lợi đáng kể có thể đặt ra bài toán lượng hình khác với người tham gia hạn chế, không hưởng lợi và chủ động khắc phục hậu quả. Ngay cả khi hai người có số lượng tình tiết giảm nhẹ tương tự, sự tương đồng ấy cũng không xóa bỏ khác biệt về trách nhiệm cá nhân, bởi việc lượng hình không chỉ dựa trên số lượng tình tiết mà còn phải xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi và các căn cứ khác được pháp luật quy định.
Tuy nhiên, yêu cầu cá thể hóa hình phạt không cho phép tự bổ sung điều kiện mà Điều 54 không quy định, chẳng hạn cho rằng Tòa án chỉ được xử dưới khung sau khi có kết luận riêng rằng mức tối thiểu của khung đang áp dụng là không phù hợp. Sự tương xứng của hình phạt thuộc hoạt động đánh giá lượng hình trên nền tảng Điều 50, chứ không phải điều kiện pháp lý mới có thể đặt ra ngoài Điều 54.
Ở chiều ngược lại, quyền cân nhắc của Tòa án cũng không thể được hiểu là quyền lựa chọn mức hình phạt chỉ dựa trên nhận định chủ quan, bởi những yếu tố được viện dẫn phải có ý nghĩa pháp lý, được chứng cứ hỗ trợ và liên quan thực chất đến việc đánh giá trách nhiệm hình sự. Điều kiện luật định xác định giới hạn thẩm quyền, còn các căn cứ lượng hình giúp lý giải việc lựa chọn áp dụng và mức hình phạt được quyết định, qua đó bảo đảm rằng sự khác biệt giữa các mức án có cơ sở chứ không chỉ được giải thích bằng những nhận định chung về từng bị cáo.
Vụ án kinh tế: Cùng khung hình phạt, vì sao trách nhiệm có thể khác nhau?
Trong vụ án kinh tế có nhiều người tham gia, tổng thiệt hại có thể là căn cứ quan trọng để xác định tội danh và khung hình phạt, nhưng con số đó không tự nó phản ánh đầy đủ mức độ trách nhiệm của từng bị cáo. Việc lượng hình còn đòi hỏi phải xem xét hành vi cụ thể, mức độ lỗi, vai trò trong quá trình thực hiện tội phạm, quan hệ giữa hành vi và hậu quả cùng các tình tiết khác có ý nghĩa pháp lý.
Điều 219 BLHS về tội vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước gây thất thoát, lãng phí là một ví dụ, bởi khoản 3 của điều luật quy định khung hình phạt tù từ 10 năm đến 20 năm, nhưng việc nhiều bị cáo cùng bị xét xử theo khoản này không có nghĩa họ có mức độ trách nhiệm giống nhau. Trong hoạt động quản lý, sử dụng tài sản nhà nước, một quyết định có thể trải qua nhiều khâu tham mưu, thẩm định, phê duyệt, tổ chức thực hiện và kiểm tra, khiến người đề xuất, người có thẩm quyền quyết định, người trực tiếp thực hiện và người tham gia một công đoạn nhất định có thể cùng liên quan đến hậu quả cuối cùng nhưng không nhất thiết có cùng vai trò hoặc mức độ lỗi.
Ở đây cần phân biệt hai tuyến tranh luận pháp lý có quan hệ chặt chẽ nhưng không đồng nhất. Tuyến thứ nhất liên quan đến định tội và định khung, trong đó phải xác định hành vi nào được chứng minh, hậu quả nào có quan hệ nhân quả với hành vi đó và căn cứ nào cho phép áp dụng khoản tương ứng của điều luật; tuyến thứ hai liên quan đến lượng hình, tức là trên cơ sở tội danh và khung hình phạt đã được xác định, vai trò, mức độ lỗi, nhân thân và các tình tiết hợp pháp của từng người có ý nghĩa như thế nào đối với mức hình phạt.
Việc chứng minh bị cáo có vai trò hạn chế không tự động làm thay đổi khung hình phạt, cũng như việc nhiều bị cáo cùng thuộc một khung không làm mất đi yêu cầu đánh giá trách nhiệm cá nhân khi lượng hình. Tương tự, tổng thiệt hại không thể được chia cơ học thành những phần tương ứng với từng bị cáo để từ đó suy ra mức độ trách nhiệm của mỗi người, bởi việc xác định trách nhiệm phải căn cứ vào cấu thành tội phạm, hành vi thực tế, quan hệ nhân quả và các quy định pháp luật áp dụng.
Giới hạn của việc xử dưới khung cũng cần được xác định theo cấu trúc cụ thể của từng điều luật. Chẳng hạn, khoản 3 Điều 219 quy định mức phạt tù từ 10 năm đến 20 năm, trong khi khoản 2 là khung liền kề nhẹ hơn, có mức phạt tù từ 3 năm đến 12 năm; nếu áp dụng khoản 1 Điều 54 đối với người bị xét xử theo khoản 3, Tòa án có thể quyết định mức hình phạt dưới 10 năm nhưng phải nằm trong khung liền kề nhẹ hơn, tức khoảng mức tù có thể xem xét theo cơ chế này là từ 3 năm đến dưới 10 năm.
Ví dụ trên chỉ minh họa giới hạn pháp lý của việc xử dưới khung, không phải dự báo mức án cho một bị cáo cụ thể, bởi việc lựa chọn mức hình phạt nào trong phạm vi được phép vẫn phải dựa trên toàn bộ căn cứ lượng hình. Trong khi đó, nếu người phạm tội đáp ứng đúng trường hợp đặc thù tại khoản 2 Điều 54, pháp luật không bắt buộc hình phạt dưới khung phải nằm trong khung liền kề nhẹ hơn, nhưng điều này cũng không đồng nghĩa Tòa án được tùy ý lựa chọn mức hình phạt mà không chịu những giới hạn khác của BLHS.
Bên cạnh vai trò cá nhân và hậu quả của hành vi, việc khắc phục hậu quả là yếu tố thường được quan tâm trong các vụ án kinh tế. Điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS quy định người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP tiếp tục hướng dẫn việc xem xét tình tiết này, trong đó có trường hợp người phạm tội đồng ý để người thân hoặc người khác thực hiện việc khắc phục, cũng như những tình huống bên có quyền nhận từ chối tiếp nhận tiền hoặc tài sản.
Vì vậy, không thể loại trừ việc xem xét tình tiết giảm nhẹ chỉ vì người trực tiếp nộp tiền không phải bị cáo, mà phải xác định ý chí tự nguyện của người phạm tội, căn cứ chứng minh việc khắc phục, kết quả thực tế và các điều kiện liên quan theo hướng dẫn pháp luật. Đồng thời, cần phân biệt tài sản được cơ quan có thẩm quyền thu hồi, tài sản bị kê biên hoặc đưa ra bảo đảm với khoản tiền, tài sản được sử dụng để khắc phục hậu quả trên cơ sở tự nguyện, bởi việc tài sản đã bị kê biên không đồng nghĩa tài sản ấy đã được xử lý để khắc phục, cũng như tài sản đã được thu hồi không tự động chứng minh một bị cáo cụ thể có hành vi tự nguyện khắc phục theo điểm b khoản 1 Điều 51.
Giả sử một vụ án có tổng thiệt hại 100 tỷ đồng và một bị cáo đã nộp hoặc đồng ý để người khác nộp 20 tỷ đồng nhằm khắc phục hậu quả, khoản tiền này tương đương 20% tổng thiệt hại nhưng chưa thể từ đó kết luận người này đã khắc phục 20% phần trách nhiệm của mình. Phạm vi hậu quả liên quan đến từng người, căn cứ công nhận tình tiết giảm nhẹ và ý nghĩa của việc khắc phục khi lượng hình phải được đánh giá riêng, bởi Điều 54 không thiết lập công thức quy đổi tỷ lệ khắc phục thành số năm tù được giảm.
Cũng cần phân biệt xử dưới khung với án treo theo Điều 65 BLHS, bởi Điều 54 liên quan đến việc quyết định mức hình phạt dưới giới hạn của khung đang áp dụng, còn án treo là chế định cho phép người bị xử phạt tù không quá ba năm được miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện khi đáp ứng các yêu cầu pháp luật. Do đó, một bị cáo được xử dưới khung vẫn có thể phải chấp hành hình phạt tù, trong khi mức án không quá ba năm cũng không đương nhiên dẫn đến án treo.
Quyết định dưới khung phải được lý giải bằng những căn cứ nào?
Nếu Điều 54 cho phép Tòa án quyết định hình phạt thấp hơn mức tối thiểu của khung đang áp dụng thì vấn đề tiếp theo là quyết định ấy phải được đặt trong mối quan hệ với những căn cứ pháp luật và chứng cứ thể hiện trách nhiệm hình sự của người bị xét xử. Điều này không chỉ liên quan đến việc lựa chọn mức hình phạt mà còn đặt ra yêu cầu về khả năng kiểm tra, đánh giá tính hợp lý của lập luận lượng hình.
Về mặt pháp lý, cần phân biệt những yêu cầu đã được quy định với kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng lập luận trong bản án, bởi khoản 3 Điều 54 quy định rõ lý do giảm nhẹ phải được ghi trong bản án đối với trường hợp áp dụng khoản này, nhưng không thể từ đó suy rộng rằng mọi trường hợp Tòa án không áp dụng Điều 54 đều phải có một phần giải trình riêng theo cùng tiêu chuẩn nếu chưa xác định được căn cứ pháp luật trực tiếp.
Dù vậy, khi bị cáo đáp ứng điều kiện luật định và đề nghị xử dưới khung đã được tranh luận thực chất, việc bản án thể hiện rõ cách Hội đồng xét xử đánh giá đề nghị ấy là điều cần được khuyến khích, không phải để buộc Tòa án chấp nhận yêu cầu xử dưới khung mà nhằm làm rõ mối liên hệ giữa các căn cứ lượng hình và quyết định cuối cùng.
Đặc biệt, cá thể hóa hình phạt không đồng nghĩa với việc mọi khác biệt về mức án đều mặc nhiên hợp lý, bởi nếu sự khác biệt chỉ được giải thích bằng những nhận định chung về nhân thân hoặc vai trò mà không chỉ ra căn cứ pháp luật và chứng cứ có ý nghĩa đối với lượng hình, việc viện dẫn yêu cầu cá thể hóa chưa đủ sức thuyết phục. Ngược lại, sự tương đồng về tội danh và khung hình phạt cũng chưa đủ để yêu cầu các bị cáo phải chịu mức án giống nhau, bởi vấn đề cần xem xét là những khác biệt được Tòa án đánh giá có thực sự liên quan đến trách nhiệm hình sự và mức hình phạt được lựa chọn hay không.
Đây cũng là giới hạn cần nhận thức khi nghiên cứu và so sánh các bản án, bởi một bản án thông thường không tạo ra quy tắc buộc vụ án khác phải có cùng mức hình phạt, trừ những vấn đề thuộc cơ chế áp dụng án lệ theo quy định. Giá trị của việc so sánh bản án nằm ở khả năng nhận diện những yếu tố có ý nghĩa đối với lượng hình, kiểm tra sự khác biệt về hành vi, vai trò, hậu quả, nhân thân và các tình tiết được áp dụng, đồng thời đánh giá cách Tòa án lý giải quyết định của mình.
Một nghiên cứu khách quan cũng cần quan tâm đến những trường hợp có nhiều tình tiết giảm nhẹ nhưng không được xử dưới khung, bởi nếu chỉ lựa chọn các bản án có mức hình phạt thấp để làm căn cứ đề nghị một kết quả tương tự, việc nghiên cứu có nguy cơ xác định trước kết luận mong muốn rồi mới tìm dữ liệu hỗ trợ. Từ góc độ hoạt động bào chữa, việc tập hợp tình tiết giảm nhẹ là cần thiết nhưng chưa đủ, bởi lập luận về xử dưới khung còn phải chứng minh điều kiện áp dụng Điều 54 và đặt đề nghị lượng hình trong tổng thể hành vi, vai trò, mức độ lỗi, hậu quả cùng các căn cứ pháp luật liên quan.
Công bằng trong lượng hình không có nghĩa những người cùng bị xét xử theo một khung hình phạt phải nhận mức án giống nhau. Nhưng sự khác biệt ấy cũng không thể chỉ được giải thích bằng hai chữ “cá thể hóa”. Đặc biệt trong các vụ án kinh tế, nơi hậu quả chung có thể rất lớn nhưng vai trò, mức độ lỗi và trách nhiệm của từng người không giống nhau, việc áp dụng Điều 54 đòi hỏi sự đánh giá đầy đủ, khách quan và có căn cứ đối với từng bị cáo.
Bởi xét đến cùng, bào chữa về lượng hình không đơn thuần là tìm kiếm những lý do để giảm án, mà là làm rõ một người phải chịu trách nhiệm đến đâu về chính hành vi của mình.
Luật sư TRƯƠNG ANH TÚ
Chủ tịch TAT Law Firm