Di sản tìm đường đến gần người trẻ
Một video dài chưa đầy một phút về làn điệu dân ca quan họ Bắc Ninh thu hút hàng trăm nghìn lượt xem trên TikTok. Một clip ghi lại hình ảnh cô gái trẻ cất giọng hát xẩm trên phố đi bộ Hà Nội được chia sẻ rộng rãi trên mạng xã hội.
Hay những thước phim ngắn về chương trình thực cảnh “Ký ức Hội An” liên tục xuất hiện trên Facebook, TikTok, YouTube, trở thành nguồn cảm hứng để nhiều du khách tìm đến phố cổ. Những hình ảnh đó cho thấy di sản văn hóa đang dần vượt ra khỏi không gian quen thuộc của bảo tàng, sân khấu hay lễ hội để hiện diện trong đời sống số hằng ngày.
Chu Diệu Linh, sinh viên năm thứ hai ngành Truyền thông đa phương tiện tại TPHCM, cho biết trước đây, em gần như không chủ động tìm hiểu về các loại hình nghệ thuật truyền thống.
“Thuật toán TikTok thường đề xuất những nội dung rất đa dạng. Có lần em vô tình xem được một video về quan họ Bắc Ninh. Ban đầu, em chỉ thấy hình ảnh đẹp, trang phục bắt mắt nên dừng lại xem. Nhưng càng xem, em càng tò mò về nguồn gốc, ý nghĩa của những làn điệu dân ca đó. Sau đó, em tìm thêm các video khác rồi đọc tài liệu để hiểu rõ hơn. Nếu không có mạng xã hội, có lẽ em sẽ khó có cơ hội tiếp cận những nội dung này một cách tự nhiên như vậy”, Diệu Linh chia sẻ.
Không chỉ riêng Diệu Linh, nhiều người trẻ đang tìm đến các giá trị văn hóa truyền thống từ chính những nội dung ngắn trên nền tảng số. Từ vài chục giây lướt xem trên TikTok hay YouTube, không ít người trẻ bắt đầu quan tâm hơn đến hát xẩm, quan họ, cải lương và các loại hình nghệ thuật dân gian vốn được cho là kén khán giả.
Thực tế, nhiều nhà sáng tạo nội dung đang lựa chọn chất liệu văn hóa truyền thống để tạo nên những sản phẩm phù hợp với thói quen tiếp nhận của công chúng hiện đại.
Không chỉ tiếp cận di sản qua màn hình điện thoại, giới trẻ còn được thôi thúc trải nghiệm trực tiếp sau khi xem các nội dung lan tỏa trên mạng xã hội. Những năm gần đây, chương trình nghệ thuật thực cảnh “Ký ức Hội An” (tỉnh Quảng Nam) là một ví dụ điển hình.
Nhiều video ghi lại các đại cảnh trên sân khấu thực cảnh rộng 25.000m² giữa sông Hoài xuất hiện dày đặc trên TikTok, Facebook và YouTube. Thông qua những thước phim ngắn, câu chuyện về Hội An từ thời sơ khai đến giai đoạn hưng thịnh được kể lại bằng ngôn ngữ nghệ thuật hiện đại, góp phần đưa hình ảnh văn hóa Việt Nam đến gần hơn với du khách trong và ngoài nước.
Một cảnh trong show diễn 'Ký ức Hội An'. Ảnh: hoianimpressionvn.
Công nghệ mở rộng không gian phát triển văn hóa
Theo ông Lê Minh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Bản quyền tác giả (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), sự phát triển của công nghệ số đang tạo ra những thay đổi căn bản đối với hoạt động sáng tạo, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa.
Ông Tuấn cho biết, trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu, văn hóa không chỉ giữ vai trò nền tảng tinh thần của xã hội, mà còn ngày càng trở thành nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế và nâng cao vị thế quốc gia.
Một trong những thay đổi rõ nét nhất là sự chuyển dịch trong cách thức tiếp cận sản phẩm văn hóa. Nếu như trước đây, công chúng muốn thưởng thức một chương trình nghệ thuật hay một bộ phim phải đến trực tiếp địa điểm biểu diễn hoặc rạp chiếu, thì với nền tảng số, các sản phẩm văn hóa có thể tiếp cận người xem mọi lúc, mọi nơi.
Công nghệ không chỉ mở rộng phạm vi tiếp cận, mà còn góp phần thay đổi phương thức sáng tạo và sản xuất sản phẩm văn hóa. Những công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, thực tế ảo hay thực tế tăng cường đang tạo ra các mô hình sáng tạo hoàn toàn khác so với trước đây.
Đặc biệt, số hóa mở ra hướng đi mới cho công tác bảo tồn di sản. Thay vì chỉ lưu giữ bằng hiện vật hoặc tài liệu vật lý, nhiều giá trị văn hóa hiện nay có thể được lưu trữ dưới dạng dữ liệu số, giúp giảm nguy cơ mai một và tạo điều kiện cho việc khai thác, sử dụng lâu dài.
Ông Lê Minh Tuấn nhận định, trong thời đại số, các sản phẩm văn hóa không còn dừng lại ở chức năng phục vụ nhu cầu hưởng thụ tinh thần, mà còn có thể trở thành nguồn lực kinh tế quan trọng.
“Theo Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, nhiều lĩnh vực như điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, quảng cáo, du lịch văn hóa, phần mềm và trò chơi giải trí được xác định là những ngành trọng điểm có khả năng tạo ra giá trị gia tăng cao”, ông Tuấn nói.
Thực tế cho thấy, việc đưa di sản lên các nền tảng số không còn là xu hướng riêng của Việt Nam. Nhiều quốc gia đã tận dụng công nghệ để biến các giá trị văn hóa truyền thống thành nguồn lực phát triển mới.
Hàn Quốc là ví dụ điển hình khi không chỉ quảng bá âm nhạc, điện ảnh, mà còn đưa hanbok, ẩm thực, cung điện cổ, lễ hội truyền thống và các giá trị văn hóa bản địa đến với công chúng toàn cầu thông qua mạng xã hội, nền tảng trực tuyến và các sản phẩm công nghiệp văn hóa.
Tương tự, Nhật Bản, Trung Quốc hay Thái Lan cũng đang đẩy mạnh số hóa di sản, kết hợp công nghệ với sáng tạo nội dung để gia tăng sức hấp dẫn của văn hóa dân tộc đối với thế hệ trẻ.
Trong bối cảnh đó, việc người trẻ Việt Nam chủ động kể lại những câu chuyện văn hóa bằng ngôn ngữ của thời đại số không chỉ góp phần bảo tồn di sản, mà còn mở ra cơ hội để các giá trị truyền thống tiếp cận rộng rãi hơn với công chúng trong nước và quốc tế.
Theo bà Nguyễn Thị Thanh Thúy - Phó Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao TPHCM, thành phố này đang từng bước xây dựng hệ thống dữ liệu công nghiệp văn hóa, đồng thời đẩy mạnh số hóa di sản, tác phẩm văn học, nghệ thuật và điện ảnh nhằm hình thành nguồn dữ liệu phục vụ công tác quản lý, hoạch định chính sách và xây dựng đô thị thông minh.
Bà Thúy cho rằng, bên cạnh hạ tầng công nghệ, nguồn nhân lực là yếu tố then chốt để phát triển công nghiệp văn hóa. Do đó, các cơ sở đào tạo cần bổ sung kiến thức liên ngành, kết hợp giữa quản lý văn hóa, quản trị công và kinh tế sáng tạo. Đây sẽ là nền tảng giúp sinh viên vừa nắm vững kỹ năng quản lý, vừa có khả năng khai thác các giá trị sáng tạo, góp phần phát triển công nghiệp văn hóa trong bối cảnh chuyển đổi số.