xuân

Công bố 10 doanh nghiệp thép – vật liệu xây dựng nộp ngân sách lớn nhất: 19.000 tỷ đồng đến từ đâu?

Top 10 doanh nghiệp thép – vật liệu xây dựng nộp tổng cộng 19.038 tỷ đồng vào ngân sách năm 2025. Hòa Phát một mình đóng góp 68% toàn bảng, nhưng phía sau con số này là những cấu trúc rất khác nhau.

Theo dữ liệu của VNTAX200, 10 doanh nghiệp thép – vật liệu xây dựng có số nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam năm 2025 đóng góp hơn 19.000 tỷ đồng, tương đương bình quân hơn 52 tỷ đồng mỗi ngày.

Bảng xếp hạng trải rộng từ thép xây dựng, tôn mạ, xi măng đến đá, ống nhựa và vật liệu nội thất. Vì vậy, dù cùng nằm trong chuỗi phục vụ xây dựng và công nghiệp, mỗi doanh nghiệp lại tạo ra nghĩa vụ ngân sách từ một cấu trúc sản xuất, thị trường và nguồn lực khác nhau.

Công bố 10 doanh nghiệp thép – vật liệu xây dựng nộp ngân sách lớn nhất: 19.000 tỷ đồng đến từ đâu?- Ảnh 1.

Một mình Hòa Phát lớn hơn tổng 9 doanh nghiệp còn lại

Dẫn đầu bảng vinh danh là CTCP Tập đoàn Hòa Phát (HPG) với 12.954 tỷ đồng nộp ngân sách trong năm 2025. Đứng thứ hai là CTCP Tập đoàn Hoa Sen với 1.230 tỷ đồng. Tổng công ty Công nghiệp Xi măng Việt Nam – VICEM xếp thứ ba với 1.110 tỷ đồng, theo sau là Tổng công ty Thép Việt Nam – CTCP, thường được biết đến với tên VNSTEEL, với 927 tỷ đồng.

Các vị trí tiếp theo lần lượt thuộc về Thép Nam Kim, Nhựa Bình Minh, Xây dựng và Sản xuất Vật liệu Xây dựng Biên Hòa, Gỗ An Cường, Nhựa Thiếu niên Tiền Phong và Tôn Đông Á.

Điểm nổi bật nhất của bảng là mức độ tập trung rất cao vào doanh nghiệp đứng đầu. Hòa Phát chiếm khoảng 68% tổng số nộp của Top 10. Một mình tập đoàn này đóng góp nhiều hơn 6.870 tỷ đồng so với tổng số nộp của 9 doanh nghiệp còn lại cộng lại.

Công bố 10 doanh nghiệp thép – vật liệu xây dựng nộp ngân sách lớn nhất: 19.000 tỷ đồng đến từ đâu?- Ảnh 2.

Tính theo nhóm ngành, 5 doanh nghiệp thép gồm Hòa Phát, Hoa Sen, VNSTEEL, Nam Kim và Tôn Đông Á nộp tổng cộng 16.287 tỷ đồng, chiếm 85,5% toàn bảng. 5 doanh nghiệp vật liệu xây dựng còn lại đóng góp 2.751 tỷ đồng, tương đương 14,5%.

Như vậy, cứ 100 đồng ngân sách được tạo ra bởi Top 10, khoảng 85 đồng đến từ nhóm doanh nghiệp thép và riêng Hòa Phát đã đóng góp 68 đồng.

So với năm 2024, tổng số nộp ngân sách của Top 10 năm 2025 giảm 572 tỷ đồng, tương đương 2,9%. Tuy nhiên, mức giảm này không đồng nghĩa toàn bộ bảng xếp hạng cùng đi xuống. Trong 10 doanh nghiệp, có 6 đơn vị tăng đóng góp và 4 đơn vị giảm.

Nếu kéo dài góc nhìn, mức đóng góp năm 2025 vẫn cao hơn đáng kể so với 2 năm trước. Năm 2023, Top 10 nộp ngân sách hơn 13.000 tỷ đồng. Sau hai năm, con số đã tăng thêm gần 5.500 tỷ đồng, tương đương 40,6%.

Con số nộp ngân sách được tạo ra theo những cách khác nhau

Trong nhóm thép tư nhân, phần lớn số nộp ngân sách đến từ thuế giá trị gia tăng đối với hàng nhập khẩu.

Công bố 10 doanh nghiệp thép – vật liệu xây dựng nộp ngân sách lớn nhất: 19.000 tỷ đồng đến từ đâu?- Ảnh 3.

Tại Hòa Phát, thuế giá trị gia tăng hàng nhập khẩu đạt gần 8.766 tỷ đồng, chiếm 67,7% tổng số tiền thực nộp. Thuế thu nhập doanh nghiệp đạt gần 1.995 tỷ đồng, tương đương 15,4%. Các khoản còn lại gồm hơn 903 tỷ đồng thuế giá trị gia tăng nội địa, gần 399 tỷ đồng thuế xuất nhập khẩu và hơn 262 tỷ đồng thuế tiêu thụ đặc biệt.

Cơ cấu này cho thấy đóng góp của Hòa Phát không chỉ đến từ lợi nhuận tạo ra, mà còn phản ánh quy mô rất lớn của dòng nguyên liệu, hàng hóa và thiết bị đi qua chuỗi sản xuất.

Tại Hoa Sen, trong tổng số 1.230 tỷ đồng thực nộp bằng tiền, thuế giá trị gia tăng hàng nhập khẩu đạt hơn 782 tỷ đồng và thuế xuất nhập khẩu hơn 260 tỷ đồng. Hai khoản này cộng lại chiếm gần 85% tổng đóng góp, trong khi thuế thu nhập doanh nghiệp ở mức hơn 92 tỷ đồng.

Nam Kim có cơ cấu tập trung cao hơn. Trong 876 tỷ đồng thực nộp, thuế giá trị gia tăng hàng nhập khẩu đạt hơn 723 tỷ đồng, chiếm 82,5%; thuế thu nhập doanh nghiệp đạt gần 107 tỷ đồng.

Ở VNSTEEL, thuế giá trị gia tăng đạt gần 637 tỷ đồng, tương đương 68,7% tổng số nộp. Thuế nhà đất và tiền thuê đất hơn 110 tỷ đồng, còn thuế thu nhập doanh nghiệp gần 68,4 tỷ đồng.

Nếu các doanh nghiệp thép phản ánh mạnh quy mô lưu chuyển hàng hóa, nhóm xi măng và đá xây dựng lại mang một cấu trúc hoàn toàn khác, với tỷ trọng đáng kể đến từ việc khai thác, sử dụng tài nguyên và đất đai.

Trong tổng số 1.110 tỷ đồng VICEM thực nộp, thuế tài nguyên đạt hơn 193 tỷ đồng, tiền thuê đất và thuế nhà đất hơn 118 tỷ đồng, phí bảo vệ môi trường hơn 105 tỷ đồng và phí cấp quyền khai thác khoáng sản gần 100 tỷ đồng.

Bốn khoản này cộng lại đạt gần 517 tỷ đồng, chiếm 46,5% tổng số nộp của VICEM. Trong khi đó, thuế thu nhập doanh nghiệp chỉ đạt hơn 54 tỷ đồng, tương đương chưa tới 5%.

Tại Vật liệu Xây dựng Biên Hòa, riêng thuế tài nguyên đạt hơn 147 tỷ đồng, chiếm 34,3% tổng số nộp. Cộng thêm gần 22 tỷ đồng tiền thuê đất, các nghĩa vụ gắn với tài nguyên và đất đai chiếm gần 40% đóng góp của doanh nghiệp.

Nhựa Bình Minh là trường hợp đối lập. Trong gần 488 tỷ đồng thực nộp, thuế thu nhập doanh nghiệp đạt hơn 302 tỷ đồng, chiếm 62%. Thuế giá trị gia tăng đạt hơn 150 tỷ đồng, tương đương gần 31%. Đây là doanh nghiệp có cơ cấu số nộp phản ánh trực tiếp hiệu quả sinh lời rõ nhất trong nhóm được công bố chi tiết.

Mỗi phân khúc vận động theo một nhịp riêng

Sự khác biệt về cơ cấu thuế đi cùng sự phân hóa về thị trường. Ngay trong ngành thép, các nhóm sản phẩm không tăng trưởng theo cùng một hướng.

Theo Hiệp hội Thép Việt Nam, sản lượng thép thành phẩm năm 2025 đạt 32,26 triệu tấn, tăng 9,6%; bán hàng đạt 31,62 triệu tấn, tăng 8,7%. Tuy nhiên, động lực tăng chủ yếu đến từ thị trường trong nước, trong khi xuất khẩu thép thành phẩm giảm 37,9%, còn gần 5 triệu tấn.

Bên trong tổng số đó, bán hàng thép xây dựng tăng 12%, HRC tăng 28% và ống thép tăng 6%. Ngược lại, thép cán nguội giảm 8%, còn tôn mạ kim loại và các sản phẩm mạ giảm 13%. Xuất khẩu HRC giảm 60,7%, tôn mạ giảm 47,5% và thép xây dựng giảm 21%.

Những con số này cho thấy năm 2025 không đơn thuần là một năm “thị trường thép tăng trưởng”. Đúng hơn, cầu nội địa đã hỗ trợ thép xây dựng và HRC, trong khi các sản phẩm phụ thuộc nhiều hơn vào xuất khẩu, đặc biệt là tôn mạ, chịu sức ép rõ rệt.

Đối với thép xây dựng, lượng bán trong nước tăng tại cả ba miền: miền Bắc tăng 19,9%, miền Trung tăng 23,6% và miền Nam tăng 12,5%. Trong khi đó, xuất khẩu giảm 21%.

Hòa Phát chiếm 36,5% thị phần bán hàng thép xây dựng năm 2025, còn VNSTEEL chiếm 11,63%. Hai doanh nghiệp cộng lại nắm hơn 48% thị trường theo thống kê của các thành viên VSA.

Bối cảnh này tạo nền thị trường thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp có vị thế lớn trong thép xây dựng. Ngược lại, Hoa Sen và Nam Kim hoạt động chủ yếu ở lĩnh vực tôn mạ phải vận hành trong điều kiện xuất khẩu và tiêu thụ của phân khúc này suy giảm.

Với ngành xi măng, VICEM tăng số nộp ngân sách trong bối cảnh ngành xi măng bắt đầu thoát khỏi giai đoạn trầm lắng kéo dài. Năm 2025, sản lượng clinker của Tổng công ty tăng 11,3%, tiêu thụ xi măng và clinker tăng 8,5%, giúp doanh thu đạt 28.848 tỷ đồng và lợi nhuận trước thuế chuyển biến mạnh.

Tuy nhiên, 1.110 tỷ đồng nộp ngân sách của VICEM không chủ yếu đến từ thuế thu nhập doanh nghiệp. Gần một nửa là các nghĩa vụ gắn với tài nguyên, đất đai, môi trường và quyền khai thác khoáng sản. Vì vậy, con số này phản ánh đồng thời quy mô bán hàng, sản lượng khai thác và đặc thù của một ngành sử dụng nhiều tài nguyên thiên nhiên.

Với ngành nhựa, Nhựa Bình Minh và Nhựa Tiền Phong là trường hợp mà số nộp ngân sách phản ánh khá rõ hiệu quả sinh lời. Giá hạt nhựa PVC Trung Quốc bình quân năm 2025 giảm hơn 14%, trong khi sản lượng tiêu thụ của doanh nghiệp tăng. Sự kết hợp giữa đầu vào thuận lợi và nhu cầu ống nhựa phục hồi giúp cả 2 doanh nghiệp này đạt lợi nhuận trước thuế kỷ lục trong năm 2025.