![]() |
| Công nhân đang đổ xăng cho một chiếc xe ô tô tại trạm xăng ở Thượng Hải, Trung Quốc. (Nguồn: Getty Images) |
Một điều kỳ lạ đang xảy ra tại Trung Quốc.
Theo JPMorgan, nhu cầu dầu mỏ của Trung Quốc đã lao dốc 9% so với thời điểm trước khi căng thẳng ở Iran nổ ra. Đó chính là kịch bản của những cơn ác mộng kinh tế.
Để dễ hình dung, nhu cầu dầu toàn cầu chỉ giảm 2% trong thời kỳ Đại suy thoái năm 2008. Nhưng Trung Quốc không hề mấp mé bờ vực sụp đổ kinh tế. Ngược lại, tình hình dầu mỏ ở Trung Quốc có vẻ vẫn ổn, bất chấp cú sốc cung ứng năng lượng lớn nhất mà thế giới từng chứng kiến, bất chấp thực tế Trung Quốc nhập khẩu tới 70% lượng dầu và bất chấp nước này là khách hàng mua dầu số 1 của Iran.
Để đạt được mức giảm nhu cầu sử dụng dầu mỏ, đó không phải là do một nỗ lực tiết kiệm nhiên liệu do chính phủ bắt buộc, mà là do những thay đổi nhanh chóng trong hành vi của người tiêu dùng. Người tiêu dùng Trung Quốc đã đổi những chiếc ô tô ngốn xăng lấy xe điện và phương tiện giao thông công cộng, đồng thời chuyển các chuyến du lịch quốc tế sang các điểm đến trong nội địa.
Điều này cũng đang diễn ra ở những quốc gia khác trên thế giới. Một số lựa chọn trong số đó đã dẫn đến những thay đổi vĩnh viễn trong nhu cầu dầu mỏ – ngay cả khi eo biển Hormuz mở cửa trở lại. Nói cách khác: Chúng ta có thể đã chạm đỉnh dầu mỏ – thời điểm mà thế giới bắt đầu giảm dần sự phụ thuộc vào dầu thô và khó có thể quay trở lại mức cao như trước đây.
Chuyện gì đang xảy ra ở Trung Quốc?
Trung Quốc đã tự bảo vệ mình trước tình trạng thiếu hụt dầu mỏ và phân phối định lượng của các nước láng giềng phần lớn nhờ vào kho dự trữ dầu thô khổng lồ, chủ yếu nhờ việc tích trữ nhiên liệu trước khi chiến tranh nổ ra.
Nhưng đó chỉ là giải pháp tạm thời. Sự dịch chuyển đáng kể hơn mang tính lâu dài: Người tiêu dùng Trung Quốc đã nhìn thẳng vào giá xăng đang tăng và chuyển sang dùng xe điện.
Theo Bộ Giao thông Vận tải Trung Quốc, trong những ngày đầu của Ngày Quốc tế Lao động kéo dài 5 ngày, lượng sạc xe điện trên các tuyến đường cao tốc của Trung Quốc đã tăng vọt 55,6% so với cùng kỳ. Trong suốt kỳ nghỉ, chỉ dưới 1/4 số ô tô lưu thông trên các đường cao tốc của Trung Quốc là xe điện – tăng 33% so với một năm trước đó.
| More from WVR |
Trong khi đó, lượng hành khách di chuyển bằng đường hàng không trong dịp này đã giảm 5,7%. Nhưng sự sụt giảm số lượng chuyến bay đó chủ yếu là do các chuyến bay quốc tế giảm mạnh, trong khi các chuyến bay nội địa tăng 3,5%, còn các chuyến đi bằng đường sắt tăng 4,6%.
Một tình trạng tương tự đang diễn ra ở Châu Âu: Theo JPMorgan, lượng đăng ký xe mới đang ở mức cao nhất trong 7 năm, dẫn đầu là doanh số bán xe hybrid. Xe điện thậm chí còn trở nên hợp túi tiền hơn vì giá điện ở châu Âu đang giảm, chủ yếu nhờ vào các khoản đầu tư khổng lồ vào năng lượng gió và mặt trời trong thập kỷ qua.
Điều đó chắc chắn không phải là xu hướng ở mọi nơi. Doanh số bán xe điện không tăng đáng kể tại Mỹ sau khi các đảng viên Cộng hòa tại Quốc hội, với sự ủng hộ của Tổng thống Donald Trump, đã tước bỏ các khoản ưu đãi do chính phủ hỗ trợ để mua xe điện.
Tuy nhiên, theo bà Natasha Kaneva, Trưởng bộ phận chiến lược hàng hóa tại JPMorgan, sự sụt giảm vĩnh viễn trong việc sử dụng dầu, dù chỉ từ một số lĩnh vực thuộc hai nền kinh tế lớn, cũng có thể làm tổn hại nhu cầu đến mức loại năng lượng này sẽ không bao giờ phục hồi hoàn toàn.
Chuyên gia này nói: “Lịch sử cho thấy các cú sốc dầu mỏ trong quá khứ thường để lại sự sụt giảm kéo dài trong nhu cầu xăng dầu, và giai đoạn này có thể cũng không ngoại lệ”.
Bài học từ năm 1973
Thế giới đã thích nghi với cuộc khủng hoảng dầu mỏ Iran gần nhất, đó là cuộc cấm vận dầu mỏ năm 1973.
Các quốc gia đã liên kết với nhau để thành lập Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) với nhiệm vụ điều phối và phân công trách nhiệm cho các nước thành viên trong việc giảm bớt sự phụ thuộc vào dầu mỏ. Số lượng các nhà máy điện hạt nhân tăng mạnh trong suốt thập kỷ đó, các lựa chọn giao thông công cộng và các tiêu chuẩn hiệu suất mới cho phương tiện giao thông cũng như hệ thống cách nhiệt nhà ở cũng tăng theo.
Mỹ và các quốc gia khác đã xây dựng các kho dự trữ dầu mỏ chiến lược. Quốc hội Mỹ đã thành lập Bộ Năng lượng và giảm giới hạn tốc độ quốc gia xuống còn 55 dặm/giờ (khoảng 88 km/h).
Những năm 1970 đã đánh dấu mức giảm nhu cầu nhiên liệu hóa thạch lớn nhất trong lịch sử Mỹ.
Jason Bordoff, Giám đốc sáng lập Trung tâm Chính sách Năng lượng Toàn cầu tại Đại học Columbia, cho biết: “Đó là một kiểu cú sốc tập thể đối với hệ thống của Mỹ, buộc các nhà hoạch định chính sách phải loại bỏ dầu mỏ”.
Bên cạnh đó, các cuộc khủng hoảng khác cũng dẫn đến những thay đổi vĩnh viễn. Ví dụ, đại dịch Covid-19 đã biến việc làm việc từ xa trở thành điều bình thường, làm giảm đáng kể số lượng người đi làm và nhu cầu về không gian văn phòng.
Tương tự, sau xung đột Nga-Ukraine kể từ năm 2022, Liên minh châu Âu (EU) đã ban hành các quy định giúp giảm mạnh sự phụ thuộc vào khí đốt tự nhiên để chuyển sang các nguồn năng lượng tái tạo.
![]() |
| Ngày 23/12/1973, ô tô xếp hàng theo hai hướng tại một trạm xăng ở thành phố New York, Mỹ. (Nguồn: Getty Images) |
Cuộc chiến Iran đã làm giảm đáng kể nhu cầu dầu toàn cầu: Trong tháng 3, nhu cầu đã giảm 2,8 triệu thùng mỗi ngày. Trong tháng 4 là 4,3 triệu thùng mỗi ngày. Trong tháng 5 là 5,6 triệu thùng.
Mặc dù chưa hoàn toàn chạm đến mức giảm nhu cầu 10 triệu thùng/ngày như thời dịch Covid-19, thế giới đang tiến gần hơn đến mốc này.
Tuy nhiên, cơn khát dầu của thế giới không thể phóng đại. Các nhà máy, xưởng điện, nhà sản xuất nhựa… tất cả đều cần dầu thô.
Đó là lý do tại sao nhu cầu dầu mỏ không phát sinh trong ngắn hạn, Alan Gelder, Trưởng bộ phận nghiên cứu thị trường lọc dầu, hóa chất và dầu mỏ tại Wood Mackenzie, lưu ý. Bất cứ khi nào eo biển Hormuz mở cửa trở lại, các thiết bị vốn phụ thuộc vào dầu phần lớn sẽ không thay đổi và sẽ cần phải được tiếp nhiên liệu trở lại.
Có thể phải đến sau đó – có lẽ phải đến thập kỷ tới – những thay đổi trong thói quan tiêu dùng đó mới xuất hiện rõ ràng trong dữ liệu thị trường dầu mỏ.
Nhưng vĩnh viễn có nghĩa là mãi mãi. Nếu người dân thực hiện những thay đổi đó, cuối cùng chúng sẽ thể hiện rõ ràng trong nền kinh tế.

