Nguyễn Thuật sinh ngày năm 1842 tại làng Hà Lam, huyện Lễ Dương, phủ Thăng Hoa, trấn Quảng Nam (nay là xã Thăng Bình, Đà Nẵng). Ông tên thật là Nguyễn Công Nghệ, sau đổi thành Nguyễn Thuật, tự Hiếu Sinh, hiệu Hà Đình.
Gia đình ông có truyền thống nho học, cha là Nguyễn Đạo, mẹ là Võ Thị Tại; anh trai là Nguyễn Duật - Tán tương quân vụ Nghĩa hội Quảng Nam; chú ruột là Nguyễn Tạo - Sơn phòng sứ và Đốc học Quảng Nam.
Vị Phó bảng làm trọng thần triều Nguyễn
Theo tư liệu gia phả, thủy tổ của Nguyễn Thuật là Nguyễn Công Châu (nguyên quán Nghệ An), vào Quảng Nam thời vua Lê Thánh Tông (1471) khai khẩn đất mới, chọn Hà Lam làm quê hương thứ hai.
Thuở nhỏ, Nguyễn Thuật học tại nhà, sau học tại trường Huấn huyện Thăng Bình rồi trường Đốc Thanh Chiêm. Năm Tự Đức thứ 20 (1867), ông thi đỗ Cử nhân; năm sau, đỗ Phó bảng. Ban đầu, ông được bổ làm Biên tu sung Hàn lâm viện nội các, rồi thăng làm Giáo đạo Dưỡng Thiện đường, dạy các hoàng tử.
Năm 1877, Nguyễn Thuật được sung chức Duyệt quyển trong đợt phúc thí các Cử nhân trúng cách năm 1877, lấy đỗ 4 Tiến sĩ: Phan Đình Phùng, Trần Hữu Khác, Trần Phát, Nguyễn Tài Tuyển.
Năm Tự Đức thứ 34 (1881), Nguyễn Thuật được thăng hàm Tham tá các vụ, lãnh Hộ Bộ thị lang, rồi được làm Chánh sứ sang Trung Quốc. Đến khi về nước, ông được thăng hàm Tham tri.
Năm Tự Đức thứ 36 (1883), ông lại được cử làm Phó sứ để cùng Chánh sứ Phạm Thận Duật sang Thiên Tân (Trung Quốc) bàn việc hội thương, nhưng không thành công, ông trở về nước, lúc này vua Tự Đức đã băng hà (tháng 7 năm 1883). Năm Giáp Thân (1884), ông được vua Kiến Phúc bổ làm Tuần vũ Thanh Hóa. Cũng trong năm này, ông được cử làm Chánh chủ khảo kỳ thi Hội, lấy đỗ các Tiến sĩ: Nguyễn Đức Quý, Dương Thúc Cáp, Nguyễn Thích, cùng 4 Phó bảng: Nguyễn Phụ, Nguyễn Âu Chuyên, Phan Xuân Quán, Trần Khánh Hội.
Tháng 5 năm Ất Dậu (tháng 7 năm 1885), quân Pháp chiếm Kinh thành Huế, vua Hàm Nghi xuất bôn ra Quảng Trị ban dụ Cần Vương; anh em của Nguyễn Thuật tham gia Nghĩa hội ở Quảng Nam bị Pháp bắt, ông xin trả lại quan hàm, chỉ giữ nguyên Phó bảng nhưng triều Đồng Khánh không chấp thuận. Sau đó, ông được sung chức Tuyên úy sứ Quảng Nam Tả trực kỳ, rồi Thượng thư bộ Hộ, Thượng thư bộ Lại, Hiệp Biện Đại học sĩ gia hàm Thái tử Thiếu bảo.
Năm Đồng Khánh thứ hai (1887), ông được cử làm Tổng đốc Thanh Hóa và làm Chánh chủ khảo kỳ thi Hội năm này. Năm Thành Thái thứ năm (1893), ông được triệu về kinh nhận hàm Hiệp tá đại học sĩ, lãnh chức Thượng thư bộ Binh, sung Cơ mật viện đại thần. Năm Thành Thái thứ tám (1896), với cương vị Tổng tài Quốc sử quán, Nguyễn Thuật nhận lệnh cùng Trương Quang Đản soạn cuốn “Sử Quán thư mục”.
Năm Thành Thái thứ mười ba (1901), vì bất hòa với Hoàng Cao Khải, và chống đối việc Nguyễn Thân chém chết mười mấy người thuộc chi đảng của Phan Đình Phùng nên Nguyễn Thuật xin về hưu. Ông mở trường dạy học tại quê nhà, được nhân dân địa phương yêu mến, kính trọng.
Khi chính quyền bảo hộ Pháp và Nam triều cho Nguyễn Thân về hưu và điều Hoàng Cao Khải ra Bắc Kỳ, vua Thành Thái liền ban chỉ triệu Nguyễn Thuật và cựu Thượng thư Hồ Lệ vào triều.
Sang đời vua Duy Tân, Nguyễn Thuật lại xin về hưu, rồi tiếp tục dạy học tại Hà Lam cho đến khi qua đời vào ngày 25 tháng 11 năm Tân Hợi (1911), hưởng thọ 69 tuổi.
Chân dung Phó bảng Nguyễn Thuật.
Bi kịch “sinh bất phùng thời”
Theo giới nghiên cứu, Nguyễn Thuật đã để lại cho đời một số lượng tác phẩm thơ văn rất đồ sộ với trên 800 bài gồm đủ các thể loại văn, thơ, từ, phú, hát nói, câu đối… Ngoài ra, ông còn để lại nhiều tác phẩm thư pháp, bi ký cả trong và ngoài nước. Thơ của Nguyễn Thuật giàu thi ảnh, mang tính nhân văn sâu sắc. Thơ văn của ông hàm chứa một nhân sinh quan tích cực, một thế giới quan lành mạnh, trong sáng.
Tác phẩm viết bằng chữ Hán của Nguyễn Thuật có “Hà Đình ứng chế thi sao”, gồm thơ họa lại thơ vua Tự Đức, hoặc làm theo đề của nhà vua. Ngoài ra, còn có thơ họa đáp bạn bè, vịnh sử, vịnh vật, vịnh cảnh, cảm hoài, ngôn chí...
“Hà Đình văn tập”, gồm 244 câu đối viết trong các lễ khánh tạ, thi đỗ. Một số lớn các vị Phó bảng, Tiến sĩ được Nguyễn Thuật viết liễn chúc mừng. “Hà Đình văn sao”, gồm các bài biểu, luận, tự, bi, trướng viết khi tác giả được phong tặng chức tước hoặc cha mẹ anh em được triều đình khen thưởng và một số bài ký.
“Mỗi hoài ngâm thảo” quyển chi nhất gồm khoảng 185 bài thơ được làm từ năm 1881, tức khi tác giả nhận mệnh đi sứ sang Trung Quốc lần đầu. Quyển chi nhị khoảng 118 bài thơ. Ngoài ra, còn “Hà Đình Ứng chế thi sao” gồm 36 bài thơ đáp họa thơ của vua, 168 bài thơ xướng họa với các danh sĩ trong và ngoài nước. Trong số này có nhiều bài được vua Tự Đức khen tặng.
Ngoài ra, còn “Vãng Tân nhật ký” viết khi ông làm Phó sứ sang Trung Hoa năm 1883. “Trung Triều định lệ”, viết về các định chế Trung Quốc và Triều Tiên. “Khoái thư trích lục” gồm một số câu đối và các tạp bút về văn chương, nghệ thuật... Phần tác phẩm viết bằng chữ Nôm, ông có 3 bài thơ làm theo thể ca trù: “Chữ tình”’, “Chữ nhàn”, “Phận anh hùng”.
Bia trùng tu chùa Phước Lâm năm Kỷ Dậu (1909) do Nguyễn Thuật biên soạn. Ảnh: ITN.
Đặc biệt, theo chỉ dụ của vua, Nguyễn Thuật còn biên tập hoặc tham gia biên tập nhiều tác phẩm của vua, danh sĩ và một số sách, như: Sử quán thư mục, Đại Nam danh sơn thắng thủy thi đề tập, Đại Nam cương giới vựng biên, Đại Nam quốc cương vựng biên, Đại Nam Quốc sử tàng thư mục, Tỳ bà quốc âm tân truyện, Thi thảo tạp biên...
Là một nho sinh nơi cửa Khổng sân Trình, trải qua bao nhiêu năm dùi mài kinh sử, Nguyễn Thuật những mong đem sở học của mình ra thờ vua giúp nước, không quản ngại khó khăn. Nào hay “sinh bất phùng thời”, ông không thực hiện được hoài bão làm cho “quốc thái dân an” mà ông hằng ôm ấp bấy lâu.
Trong bài “Phận anh hùng”, ông viết: “Đã ra đời nào ngại gian nan/ Dẫu vinh nhục thăng trầm thôi cũng mặc!/ Sơn hải quân ân thù vị đắc/ Phong ba thế cuộc hận nan bằng”.
Nguyễn Thuật ra làm quan giữa lúc thực dân Pháp lần lượt xâm chiếm đất nước ta, cơ đồ nhà Nguyễn gần như sụp đổ hoàn toàn. Năm 1867, Nguyễn Thuật đỗ Cử nhân cũng là năm Pháp chiếm nốt 3 tỉnh miền Tây. Năm 1873, quân Pháp bắt đầu đánh ra Hà Nội. Năm 1882, Pháp đánh chiếm Hà Nội lần 2. Với hòa ước Giáp Thân (còn gọi là hòa ước Patenôtre) ký ngày 6/6/1884, Việt Nam thành thuộc địa của Pháp dưới nhiều chế độ cai trị khác nhau.
Năm 1885 kinh thành Huế thất thủ, Tôn Thất Thuyết nhân danh vua Hàm Nghi xuống chiếu Cần Vương, nhân dân hưởng ứng khắp nơi. Ngọn cờ Văn thân đã phất phới ở quê nhà Nguyễn Thuật, bài hịch cứu quốc khởi đầu bằng những câu kêu gọi lòng yêu nước và chí cương quyết hy sinh của sĩ tử dán khắp các trường học. Anh em của Nguyễn Thuật tham gia Nghĩa hội Quảng Nam chống Pháp, kẻ hy sinh, người bị bắt, cuối cùng phong trào Cần Vương tan rã.
Ngày 3/10/1888, Pháp ép vua Đồng Khánh ký đạo dụ nhượng các thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng cho Pháp. Trong hoàn cảnh ngặt nghèo của đất nước, mỗi sĩ phu tự chọn cho mình một cách sống, có kẻ hợp tác với giặc sát hại đồng bào; có người chiêu mộ nghĩa quân, lập căn cứ chống Pháp bằng vũ lực; có người thấy mình bất lực không làm được gì để thay đổi thời cuộc nên xin cáo quan về ở ẩn để giữ tròn khí tiết.
Lăng mộ Phó bảng Nguyễn Thuật. Ảnh: ITN.
Chọn ở lại gánh việc nước
Trong khi đó Nguyễn Thuật ở lại, không phải để mưu cầu vinh thân phì gia mà để cố hết sức mình làm được bất cứ việc gì có ích cho nước cho dân. Dù phải gánh vác những việc khó khăn cũng không ân hận. Với thái độ ứng xử trước thời cuộc, Nguyễn Thuật sẵn sàng đảm nhận những trọng trách được vua giao phó hầu giúp nước giúp dân. Năm 1883, ông đi sứ sang Thiên Tân hiệp thương với Trung Hoa yêu cầu đem binh sang cứu viện nước ta.
Mặc dù từ năm Giáp Tuất 1874, triều đình Huế đã ký hòa ước với Pháp, công nhận nước ta không còn thần phục nước nào nữa, nhưng lúc bấy giờ vì bất đắc dĩ phải ký hòa ước. Trong tư tưởng của vua Tự Đức vẫn cứ theo lệ cũ triều cống Trung Hoa, với mong muốn khi hữu sự Trung Hoa sẽ sang giúp nước mình.
Vì thế, sau khi Pháp đánh chiếm Hà Nội lần thứ nhất, năm 1883, nhà vua cử Nguyễn Thuật làm Phó sứ cùng với Chánh sứ là Thượng thư Phạm Thận Duật sang Thiên Tân thương thảo với Trung Hoa về việc Pháp xâm lược Việt Nam, nhưng việc không thành.
Mô hình 3D Nhà bia Văn thánh và Nhà lưu niệm danh nhân Nguyễn Thuật. Ảnh: ITN.
Trong “Vãng Tân nhật ký”, Nguyễn Thuật đã ghi lại nỗi phẫn uất trước thái độ hèn nhát của Trung Hoa không chịu đem binh thuyền cứu viện để cho Pháp bắt ép nước ta: “Chúng tôi căm phẫn vô cùng, việc nước tôi với Pháp vốn do Trung triều gửi công văn muốn thu vén giúp, (nay) lại triệu chúng tôi tới Thiên Tân hỏi xét, rồi thì giảng giải đã chẳng xong, lại còn rụt rè sợ sệt, không chịu đem binh thuyền cứu viện, để cho người Pháp nhân lúc nước tôi có việc, ép chúng tôi hòa. Nước tôi lần này biến cố dồn dập, cái thế không thể không theo, còn Trung triều thì không bảo vệ được nước phên giậu, không biết có lời nào giải thích với thiên hạ chăng? Sự thể đến nước này, còn nói gì được nữa!”.
Tháng 8 năm Đinh Hợi 1887, Nguyễn Thuật được sung làm Tuyên úy xử trí đại thần ở Quảng Nam để giải quyết những vấn đề sau khi Nghĩa hội Quảng Nam tan rã. Bằng uy tín và quyền hạn của mình, ông đã làm ngơ cho một số thân sĩ Quảng Nam tham gia Nghĩa hội, nhờ thế mà nhiều người thoát tội chết.
Năm 1901, Nguyễn Thuật phản đối việc Nguyễn Thân dụ các văn thân chi đảng của cụ Phan Đình Phùng đem về kinh chém hết mười mấy người, ông nhất định không chịu ký tên rồi xin về hưu, ở nhà dạy học. Trong bài “Trà Úc dạ phiếm”, sau bốn câu tả cảnh trời nước bao la của Vũng Thùng (vịnh Đà Nẵng) trong một đêm trăng sáng, Nguyễn Thuật đã bộc lộ tâm sự của mình: “Nào thuở cá kình xua tận biển/ Giờ nghe gà gáy lệ sầu tuôn/ Hùng tâm, ai đó yên sao được/ Khẳng khái lời ca tỉnh giấc buồn”.
Công phu học hành rèn luyện bao nhiêu năm mong đem ra phò vua giúp dân mà sách vở của Khổng Mạnh đã dạy, giờ chẳng còn có ích gì cho đất nước. Nhìn cảnh Nam Kỳ đã thành thuộc địa của Pháp, Nguyễn Thuật chỉ còn biết chảy nước mắt khóc thầm: “Mười năm đèn sách thành công cốc/ Bến Nghé trông vời nước mắt rơi”.
Năm 2015, một cuộc hội thảo về Nguyễn Thuật được tổ chức, giới nghiên cứu đánh giá ông - ngoài cương vị một đại thần, một sử gia, nhà giáo dục, còn là một nhà thơ, nhà văn đa tài. Tác phẩm của ông đa dạng, phong phú giàu tính nhân văn và nghệ thuật. Thơ văn ông ít đề cập đến thời thế, tuy nhiên một số bài cũng cho thấy nỗi lòng đau đáu của ông trước cảnh nước mất nhà tan và thái độ ứng xử của ông trước thời cuộc.
Nguyễn Thuật là một trọng thần triều Nguyễn suốt đời tận tuỵ tụy phục vụ 8 đời vua, từ Tự Đức tới Duy Tân, hai lần đi sứ Trung Hoa, lần lượt giữ chức Thượng thư cả 6 bộ (Công, Hình, Lại, Hộ, Binh, Lễ) cùng các chức vụ quan trọng như Cơ mật viện đại thần, Tổng đốc… mà gia đình vẫn thanh bạch. Ông không những được vua tin tưởng giao phó các việc hệ trọng mà đương thời còn được giới sĩ phu kính trọng vì đức tính thanh liêm, lòng yêu thương và gần gũi với nhân dân.