
Ông Trần Quang Bảo, Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm (Bộ NN&MT) - Ảnh: VGP/Đỗ Hương
Thưa ông, hiện nay suy thoái đất ở Việt Nam đang diễn ra nghiêm trọng đến mức nào, những khu vực nào đang chịu tác động lớn nhất và đâu là nguyên nhân cốt lõi?
Ông Trần Quang Bảo: Mặc dù Việt Nam không phải là quốc gia có các vùng sa mạc điển hình như một số nước trên thế giới, nhưng tình trạng suy thoái đất đang diễn ra âm thầm và rất đáng lo ngại. Hiện nay, gần 11,8 triệu ha đất, tương đương khoảng 36% diện tích tự nhiên cả nước, đã và đang bị thoái hóa ở các mức độ khác nhau.
3 khu vực chịu tác động nặng nề nhất gồm: Trung du và miền núi phía Bắc với hiện tượng xói mòn, rửa trôi đất trên địa hình dốc; Duyên hải Nam Trung Bộ đối mặt với khô hạn, hoang hóa và cát bay, cát lấn; Đồng bằng sông Cửu Long chịu ảnh hưởng nghiêm trọng của mặn hóa, phèn hóa và xâm nhập mặn do biến đổi khí hậu và suy giảm nguồn nước ngọt.
Nguyên nhân xuất phát từ cả yếu tố tự nhiên và con người. Biến đổi khí hậu với các hiện tượng thời tiết cực đoan, hạn hán kéo dài và nước biển dâng đang thúc đẩy quá trình thoái hóa đất. Tuy nhiên, nguyên nhân sâu xa vẫn là việc khai thác tài nguyên thiếu bền vững trong thời gian dài, chuyển đổi mục đích sử dụng đất chưa hợp lý, tập quán canh tác lạc hậu và lạm dụng vật tư nông nghiệp khiến chất lượng đất suy giảm.
Ông từng nhận định phòng, chống sa mạc hóa cần được nhìn nhận như một vấn đề an ninh quốc gia. Quan điểm này cần được hiểu như thế nào trong bối cảnh hiện nay?
Ông Trần Quang Bảo: Quan điểm này hoàn toàn phù hợp với tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm rằng bảo vệ môi trường phải được nhìn nhận như một nội dung cốt lõi của an ninh quốc gia và an ninh con người.
Ngày nay, khái niệm an ninh quốc gia không chỉ giới hạn ở bảo vệ chủ quyền lãnh thổ mà còn bao hàm việc bảo đảm nền tảng sinh thái cho sự phát triển lâu dài của đất nước. Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, là nền tảng của an ninh lương thực, an ninh nguồn nước và sinh kế của hàng triệu người dân. Khi hơn một phần ba diện tích đất tự nhiên bị suy thoái, nguy cơ đe dọa đến sản xuất nông nghiệp, gia tăng thiên tai, sạt lở và mất cân bằng sinh thái là rất rõ ràng.
Vì vậy, coi phòng, chống sa mạc hóa là vấn đề an ninh quốc gia đồng nghĩa với việc chuyển mạnh từ tư duy xử lý hậu quả sang chủ động phòng ngừa; xem bảo vệ tài nguyên đất và tài nguyên rừng là điều kiện tiên quyết trong phát triển; đồng thời xác định đây là trách nhiệm chung của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và toàn xã hội.
Mặc dù tỷ lệ che phủ rừng của Việt Nam đã đạt trên 42%, nhưng hơn một phần ba diện tích lãnh thổ vẫn đang chịu các dạng suy thoái đất. Theo ông, đâu là những thách thức và điểm nghẽn lớn nhất hiện nay?
Ông Trần Quang Bảo: Điều đó cho thấy tăng trưởng về diện tích rừng chưa thể bù đắp hoàn toàn những tổn thương về chất lượng hệ sinh thái đất và rừng. Hiện nay, chúng ta đang đối mặt với 3 điểm nghẽn lớn.
Thứ nhất là điểm nghẽn về thể chế và quản trị liên ngành. Suy thoái đất và sa mạc hóa là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố như khí hậu, nguồn nước, thổ nhưỡng và thảm thực vật. Trong khi đó, công tác quản lý trước đây còn phân tán, thiếu cơ chế phối hợp hiệu quả. Việc thành lập Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng với kiện toàn Ban Điều phối quốc gia thực hiện Công ước chống sa mạc hóa đang tạo điều kiện để tháo gỡ khó khăn này.
Thứ hai là thách thức về chất lượng rừng và sinh kế người dân. Mặc dù tỷ lệ che phủ rừng cao nhưng phần lớn là rừng trồng thuần loài hoặc rừng nghèo, khả năng giữ nước, giữ đất và bảo tồn đa dạng sinh học còn hạn chế. Trong khi đó, áp lực sinh kế tại các vùng sâu, vùng xa và vùng đồng bào dân tộc thiểu số vẫn rất lớn.
Thứ ba là vấn đề nguồn lực tài chính. Phục hồi đất suy thoái là nhiệm vụ cần nguồn vốn lớn và đầu tư dài hạn. Nguồn ngân sách hiện nay còn hạn chế, trong khi các cơ chế huy động nguồn lực xã hội, tài chính xanh và hợp tác công - tư vẫn cần tiếp tục hoàn thiện để tạo sức hút mạnh hơn đối với nhà đầu tư.
Trong giai đoạn tới, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ ưu tiên những giải pháp nào để phục hồi đất, nâng cao chất lượng hệ sinh thái và hướng tới mục tiêu cân bằng suy thoái đất?
Ông Trần Quang Bảo: Để hướng tới mục tiêu cân bằng suy thoái đất vào năm 2030 và quản lý bền vững tài nguyên đất đến năm 2050, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ tập trung triển khai năm nhóm giải pháp trọng tâm.
Trước hết là hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu quả điều phối và đẩy mạnh điều tra, lập bản đồ số hóa nguy cơ sa mạc hóa trên phạm vi toàn quốc, làm cơ sở tích hợp vào các quy hoạch phát triển.
Thứ hai là thúc đẩy các giải pháp dựa vào thiên nhiên, tập trung nâng cao chất lượng rừng, phục hồi rừng tự nhiên, rừng phòng hộ đầu nguồn và phát triển hệ thống rừng chắn gió, chắn cát ven biển. Đồng thời, khuyến khích các mô hình nông nghiệp sinh thái, nông lâm kết hợp nhằm cải thiện độ phì đất và khả năng giữ nước.
Thứ ba là hiện đại hóa công tác giám sát bằng công nghệ số. Bộ sẽ tăng cường ứng dụng viễn thám, GIS và trí tuệ nhân tạo để theo dõi diễn biến suy thoái đất, đồng thời nâng cấp hệ thống cảnh báo sớm hạn hán và xâm nhập mặn.
Thứ tư là bảo đảm công bằng và sinh kế bền vững cho người dân. Người trực tiếp tham gia bảo vệ rừng và phục hồi đất cần được hưởng lợi từ các chính sách hỗ trợ sinh kế, đào tạo nghề và tiếp cận tín dụng ưu đãi.
Cuối cùng là huy động mạnh mẽ các nguồn lực xã hội và hợp tác quốc tế. Bộ sẽ tiếp tục mở rộng các mô hình hợp tác công - tư, phát triển tài chính xanh, thúc đẩy thị trường carbon rừng và tăng cường hợp tác với các tổ chức quốc tế nhằm tranh thủ nguồn lực tài chính, công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến.
Theo ông, làm thế nào để các chương trình trồng cây thực sự mang lại hiệu quả môi trường lâu dài thay vì chỉ dừng lại ở số lượng cây được trồng?
Ông Trần Quang Bảo: Điều quan trọng nhất là phải chuyển từ tư duy "trồng cho đủ số lượng" sang "trồng để tạo ra hệ sinh thái bền vững".
Trước hết, việc lựa chọn loài cây và địa điểm trồng phải dựa trên cơ sở khoa học, bảo đảm nguyên tắc "đúng loài, đúng nơi". Ưu tiên sử dụng các loài cây bản địa, cây có khả năng thích nghi tốt với điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng của từng vùng.
Bên cạnh đó, cần gắn trách nhiệm quản lý, chăm sóc và bảo vệ cây sau khi trồng với chính quyền địa phương, các tổ chức và cộng đồng dân cư. Trồng cây chỉ là bước khởi đầu, yếu tố quyết định là tỷ lệ cây sống và phát triển trong nhiều năm sau đó.
Quan trọng hơn, các chương trình trồng rừng phải gắn với phát triển sinh kế bền vững thông qua các mô hình nông lâm kết hợp, kinh tế dưới tán rừng và khai thác hợp lý các lâm sản ngoài gỗ. Khi người dân thấy được lợi ích kinh tế lâu dài từ rừng, họ sẽ trở thành lực lượng bảo vệ rừng hiệu quả và bền vững nhất.
Xin trân trọng cảm ơn ông!
Ngày 16/6, Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lạng Sơn cùng các đơn vị liên quan tổ chức Lễ mít tinh và phát động trồng cây hưởng ứng Ngày Thế giới chống sa mạc hóa và hạn hán năm 2026.
Ông Trần Quang Bảo nhấn mạnh yêu cầu đẩy nhanh điều tra, lập bản đồ phân vùng nguy cơ sa mạc hóa, lồng ghép mục tiêu chống suy thoái đất vào quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội địa phương, đồng thời tập trung phục hồi rừng tự nhiên, ứng dụng công nghệ số trong quản lý tài nguyên và thúc đẩy hợp tác công - tư. Dịp này, Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm cùng Công ty CP Chăn nuôi C.P. Việt Nam ký kết chương trình trồng mới 1,5 triệu cây xanh giai đoạn 2026-2030.
Đỗ Hương (thực hiện)