Thời gian vốn tuần hoàn theo quy luật, nhưng với cảm xúc con người, có những tháng trong năm đi qua rất khẽ, cũng có những tháng để lại những rung động đặc biệt bằng tất cả thanh sắc của đất trời và kí ức của lòng người.
Tháng Tư hoài niệm
Bình Nguyên Trang
(Tập thơ “Bài hát ngày trở về”, Bình Nguyên Trang)
Bắt đầu từ con tu hú kêu
Lúa căng sữa và trời đang nhen nắng
Hoa gạo đỏ chỗ nẻo đường đất vắng
Sấm chuyển mùa. Tháng Tư.
Nước trôi hiền như là đang mùa Thu
Bà mừng lắm, rét nàng Bân đã hết
Tháng Tư mở đầu, tháng Tư kết thúc
Xuân xuống thuyền sang hạ phía bờ kia.
Ta nhớ tháng Tư vì có một miền quê
Mẹ hoài thai ta giữa mùa hoa rất đỏ
Bạc phếch áo cha những ngày nắng gió
Ta sinh ra lúc lúa trổ đòng đòng.
Đã tắm bốn mùa trên một dòng sông
Đã lớn theo con nước ròng nước cạn
Đã trót nhận con bướm vàng làm bạn
Đã viết nốt trầm giai điệu Tháng Tư
Nên trở về không phải khách lãng du
Là máu thịt thứ tình quê không mất
Bà đã đi xa. Tháng Tư giờ tất bật
Cây lúa gù lưng cõng nắng qua mùa.
Bài thơ “Tháng Tư hoài niệm” của tác giả Bình Nguyên Trang không chỉ là một khoảng thời gian của mùa, mà là mốc son trong dòng chảy ký ức gắn với nỗi nhớ niềm thương của nhân vật trữ tình.
Qua những hình ảnh rất quen thuộc của làng quê, bài thơ mở ra một khúc giao mùa đầy thanh âm và màu sắc, rồi từ đó dẫn người đọc về miền hoài niệm lắng sâu của tình thân, tình quê ấm áp, thiêng liêng.
Nhan đề bài thơ vừa mở ra thời gian cụ thể, vừa gợi về quá khứ với miền ký ức đầy vơi. Hay nói cách khác, “Tháng Tư hoài niệm” không chỉ xác định thời gian mà còn là không gian nghệ thuật, qua đó thể hiện cảm xúc chủ đạo của bài thơ. Hay nói cách khác, từ một tháng Tư của thiên nhiên đất trời, bài thơ đưa ta trở về với tuổi thơ, với mẹ cha, với bà, với quê hương đầy nỗi suy tư, trầm lắng.
Khúc giao mùa tinh tế
Trước hết, bài thơ đưa miền cảm xúc của người đọc đến với sự chuyển mùa từ xuân sang hạ bằng một loạt tín hiệu quen thuộc của làng quê :
“Bắt đầu từ con tu hú kêu
Lúa căng sữa và trời đang nhen nắng
Hoa gạo đỏ chỗ nẻo đường đất vắng”
và:
“Xuân xuống thuyền sang hạ phía
bờ kia”
Có thể nói từ “bắt đầu” được đặt ở đầu câu thơ, đầu bài thơ giúp ta hình dung đất trời đang mở màn, khởi động, để rồi một loạt cảnh sắc dấu hiệu của mùa hạ dần dần hiện ra. Trước hết là tiếng tu hú âm thanh đặc trưng của mùa hạ.
Thực ra, âm thanh thường là thứ dễ nhận ra và gợi mùa dễ nhất. Đặc biệt với tu hú, tiếng của nó gọi là “kêu” chứ không phải hót, vì không có âm vực lảnh lót mà dồn dập như hối thúc lòng người. Tiếng kêu ấy chỉ xuất hiện duy nhất một mùa trong năm nên có thể nói khi có âm nhịp ấy từ bụi bờ đưa vào thì mùa hạ cũng đến.
Hay nói cách khác, tu hú đã nhắc nhở thời gian, tiễn xuân chào hạ, cũng gọi cả những cảnh vật ngoài kia trở mình. Cũng là lúa đang vào thì sinh sôi sung sức, nhưng từ “căng” gợi sự tròn đầy, hứa hẹn một mùa vàng viên mãn. Không gian được mở rộng với bầu trời và nắng hạ cũng bắt đầu ló lên, còn dịu nhẹ, chưa gay gắt.
Cách dùng từ “nhen” làm cho ánh nắng trở nên ấm áp, gần gũi, như được nhóm lên từ từ sau những ngày xuân ẩm ướt. Hay nói cách khác, bước đi của mùa ở đây rất nhẹ và khẽ khàng, êm ái chứ không đột ngột nên khiến người ta dễ thích nghi. Cũng vậy, ngay cả sắc đỏ của hoa gạo cuối xuân đầu hạ cũng khiến lòng ta dễ chịu quá chừng.
Trong thơ, hoa gạo thường được miêu tả ở không gian cao rộng nổi bật, nhưng ở đây sắc đỏ ấy của hoa được đặt ở “chỗ nẻo đường đất vắng” một cách hài hòa, đủ để con người nhận ra xuân đang dần nhường hạ. Quả thế, với Bình Nguyên Trang sự chuyển mùa cũng đầy chất thơ và hết sức tinh tế. Thời gian được liên tưởng như con thuyền và mùa chính là người đi trên con thuyền ấy.
Vị khách mùa Xuân qua thuyền sang bờ bên thì đã là mùa Hạ. Như thế sự chuyển giao nhẹ nhàng, mềm mại, êm đềm như thuyền lướt giữa dòng nước. Xuân không mất đi mà chỉ lặng lẽ rời bến, nhường chỗ cho hạ. Đến lượt mình, hạ đến và vận hành cũng đáng yêu quá chừng! Biện pháp tu từ so sánh “Nước trôi hiền như đang mùa Thu” diễn tả dòng nước tháng Tư hiền hòa, êm ả.
Phải chăng vì xuân, hạ, thu gần nhau, giao nhau nên cảnh vật cũng như đang đan xen, quấn quýt lấy nhau? Hay nói cách khác, thiên nhiên cảnh vật được nhìn qua lăng kính của tâm hồn đầy cảm xúc nên khúc giao mùa cũng tinh tế lạ thường.
Một tiếng chim, một chút nắng, một chút sắc hoa cứ góp nhặt, đợi đến “sấm chuyển mùa” là tháng Tư đến trọn vẹn. Dấu chấm tách dòng thơ ở khổ thứ nhất thành đôi với cách ngắt nhịp dứt khoát hoàn thiện bức tranh chuyển mùa vừa rộn ràng vừa dịu êm.
Bài thơ giúp ta ngẫm suy và trở về với những điều bình dị hằng ngày. Ảnh minh họa từ AI.
Hoài niệm tình thân, tình quê
Có thể nói, bản giao hưởng của thiên nhiên đất trời chính là bước đệm để mở ra miền ký ức sâu thẳm của tình thân, tình quê da diết:
“Ta nhớ tháng Tư vì có một miền quê
Mẹ hoài thai ta giữa mùa hoa rất đỏ
Bạc phếch áo cha những ngày
nắng gió
Ta sinh ra lúc lúa trổ đòng đòng”.
Tính từ “nhớ” xác định rất rõ cảm xúc của nhân vật trữ tình. Và sau cảm xúc ấy là hàng loạt hình ảnh để tác giả bộc lộ nhớ thương da diết. Có thể nói cái màu đỏ một mùa hoa, cái gió của mùa nắng, “cái bạc phếch áo cha” như đang hiển hiện trước mắt nhà thơ chứ không phải là cái đã lùi xa.
Hay nói cách khác, những ngày tháng Tư lúa trổ đòng ấy, những vất vả của lúc “Mẹ hoài thai”, mẹ sinh ra ta, những ngược xuôi đẫm mồ hôi trên đường đời để lại dấu ấn trên áo cha ấy luôn hằn in trong trái tim của đứa con; để rồi cứ mỗi độ mùa về, nỗi nhớ niềm thương lại trào dâng mãnh liệt.
Như thế, tháng Tư đâu chỉ là mùa, là ngày giờ, là thời gian mà còn là một “miền quê”, một không gian trữ tình. Nơi ấy, có sự sống bắt đầu, có những người thân yêu nhất. Nơi ấy là cái nôi để “ta” trải nghiệm và trưởng thành:
“Đã tắm bốn mùa trên một dòng sông
Đã lớn theo con nước ròng nước cạn
Đã trót nhận con bướm vàng làm bạn
Đã viết nốt trầm giai điệu tháng Tư”.
Và:
“Bà đã đi xa. Tháng Tư giờ tất bật
Cây lúa gù lưng cõng nắng qua mùa”
Nơi ấy, ta “Đã tắm”, “Đã lớn”, “Đã trót nhận”, “Đã viết” những gì gần gũi thân thương nhất. Điệp từ “Đã” được đặt ở đầu câu thơ của khổ thơ thứ 4 vừa như nhịp bước thời gian lại vừa như các lớp kí ức được chồng xếp nhau. Cuốn phim hoài niệm được tua lại, tuổi thơ hiện lên thật nhiều kỷ niệm gắn với “bốn mùa trên một dòng sông”, “con nước ròng nước cạn”, “con bướm vàng làm bạn”.
Cuộc đời trải dài theo nhịp phách thời gian, cũng gắn liền với bao sự đổi thay của quê hương yêu dấu. Bởi thế, “giai điệu tháng Tư” vừa có âm sắc xôn xao, vừa “nốt trầm” của những vất vả cực nhọc mẹ cha, vừa có sự mất mát vì người bà kính yêu không còn. Dấu chấm câu giữa dòng thơ ở khổ cuối như một khoảng lặng nghẹn ngào.
Dù tác giả đã dùng cách nói giảm “đi xa” nhưng có lẽ nỗi đau, sự mất mát như hằn in đậm rõ trong tâm hồn. Không còn bà, tháng Tư vẫn đến theo quy luật, nhưng càng bận bịu, vất vả. Không còn bà, mùa lúa dường như cũng nhọc nhằn hơn. Hình ảnh nhân hóa “cây lúa gù lưng cõng nắng” làm ta liên tưởng đến bóng dáng một đời “tất bật” của bà gánh vác gia đình, lo cho con cháu.
Như thế, tháng Tư đẹp lắm với nhiều thanh âm và màu sắc của đất trời, nhưng tháng Tư cũng chan chứa nỗi niềm suy tư với những kỷ niệm về tình thân, tình quê. Bởi thế, nhân vật trữ tình đi xa để nhớ hơn, thương hơn:
“Nên trở về không phải khách lãng du
Là máu thịt thứ tình quê không mất”.
Thời gian trôi, đứa trẻ sinh vào tháng Tư năm ấy trưởng thành, đi bao xa, qua muôn nẻo đến, cũng luôn một chốn hướng về. Hay nói cách khác, quê hương đâu phải là cái gì quá trừu tượng, lớn lao, mà chính là nơi mẹ hoài thai trong mệt nhọc, sinh con trong đớn đau, cha chạy ngược xuôi chợ đời, bà còng lưng nhọc nhằn sớm hôm. Tác giả gọi đó “là máu thịt”.
Ngay cả con chim, con bướm, bông hoa, cái cây, bông lúa, dòng sông ở quê không còn là của thiên nhiên, đất trời mà chính là lòng người, là “tình quê không mất” bao giờ. Về quê là với chính mình, về nhà, về với nguồn cội, với tình yêu vững bền.
Như thế, tháng Tư không chỉ là khúc giao mùa của thiên nhiên, mà là giao mùa của đời người, giữa có và mất, giữa gần và xa, giữa đi và trở về. Để rồi qua những vần xoay, biến đổi đó, nhân vật trữ tình nghiệm ra, hiểu sâu hơn và khắc ghi tình thân và nguồn cội.
Để diễn tả dòng cảm xúc lắng sâu đó, bài thơ sử dụng đại từ “ta” thay vì “tôi” mang ý nghĩa nghệ thuật sâu sắc. Có thể hiểu “ta” là nhân vật trữ tình, người đang hoài niệm về tháng Tư, về quê hương và gia đình của mình.
“Ta” khiến cảm xúc không chỉ là của riêng tác giả mà còn trở thành nỗi lòng chung của nhiều người. Như thế, tình cảm với thiên nhiên, đất trời, sự gắn bó máu thịt với gia đình và quê hương trong bài thơ mang ý nghĩa khái quát nên dễ đồng cảm. Mặt khác, “Tháng Tư hoài niệm” sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật đặc sắc để thể hiện cảm xúc lắng đọng và tình cảm dạt dào.
Trước hết, tác giả sử dụng thể thơ tự do với việc lựa chọn những hình ảnh thơ gần gũi, quen thuộc nhưng giàu sức gợi như tiếng tu hú, lúa căng sữa, hoa gạo đỏ, dòng sông hay con bướm vàng, qua đó tái hiện bức tranh thiên nhiên làng quê tháng Tư sinh động và đầy thanh sắc. Bên cạnh đó, biện pháp nhân hóa và ẩn dụ, điệp từ được sử dụng tinh tế để diễn tả khúc giao mùa tinh tế và hoài niệm lắng sâu.
Ngoài ra, ngôn ngữ thơ mộc mạc, giản dị và giọng điệu trầm lắng, tha thiết, giàu nhạc tính đã góp phần làm nổi bật cảm xúc đa chiều, vừa sôi nổi, rạo rực vừa chiêm nghiệm sâu xa. Nhờ những yếu tố nghệ thuật ấy, bài thơ trở nên giàu cảm xúc và để lại nhiều dư âm trong lòng người đọc.
Như thế, với bài thơ “Tháng Tư hoài niệm”, nữ thi sĩ tài sắc Bình Nguyên Trang đã đưa người đọc chìm vào dòng cảm xúc rất chân thật và xúc động về tháng Tư đầy kỷ niệm của bản thân tác giả.
Mặt khác, đọc bài thơ, ta không chỉ thấy một tháng Tư cụ thể của một cá nhân, mà mỗi người còn thấy những tháng ngày của chính mình, tháng của ký ức, của cội nguồn, của những điều sâu xa trong tâm hồn.
Hay nói cách khác, từ một khúc giao mùa tinh tế, bài thơ giúp chúng ta ngẫm suy và trở về với những điều bình dị diễn ra hằng ngày nhưng rất thiêng liêng trong cuộc đời, đó là tình thân, tình quê đối với mỗi người.