Đó là những gốc bàng cổ thụ nơi ngã ba, ngã tư, trên thân cây mọc ra cái nấm to bằng cái nia lớn; là những ngôi đền phủ rêu xanh huyền bí, người dân đi qua nơi này đều phải ngả nón ra chào…
Nhưng “hoành tráng” nhất là dãy ao làng chạy dọc theo con đường liên xã, ước chừng vài ba cây số với màu xanh biếc của lục bình. Vì có tầng tầng rễ lục bình nên nước ao quanh năm lúc nào cũng trong vắt, nhìn thấy cả đáy trời đầy mây trắng.
Nhớ lời ông ngoại kể, trước đây vùng đất này là nền đất thịt pha cát, thấp trũng. Khi di dân đến đây, mọi người đều đào ao phía trước để lấy đất làm nền nhà, làm con đường chạy qua. Điều thú vị là dãy ao làng nằm ở hướng phía tây, mùa nắng nóng thì có những làn gió mang hơi mát của ao làng tỏa lan đi khắp, làm dịu phần nào cái nóng của gió Lào. Mùa đông thì ngược lại, làn hơi nước trong ao làm cho không khí trong làng ấm hơn…
Vì đất pha cát nên ông ngoại trồng cây gì cũng xanh tốt, trái ngọt theo mùa. Mùa hè có trái thanh yên, trái nhãn; mùa thu sang có trái bưởi, trái hồng… Cây trái trong vườn cũng lần lượt ra hoa kết quả đúng như lời ru cháu của bà: “Vội vàng ăn nhãn tháng năm/Ung dung ngồi đợi hồng ngâm tháng mười”.
Minh họa/INT.
Tuổi thơ tôi trôi trong miên man của màu xanh ao làng, màu xanh của một thời cổ tích. Tôi thường “tháp tùng” mấy đứa bạn bên quê ngoại để đi câu cá, vì chúng là “thổ địa”, thuộc từng ngóc ngách của ao làng. Ao nào sâu, ao nào cạn, ao nào nhiều cá rô, cá quả, chúng nó đều nhớ nằm lòng.
Thích nhất là đi thả câu; dùng những đoạn ống trúc, buộc dây câu vào, mắc mồi rồi đem thả vào những nơi cá thường qua lại. Từ tờ mờ sáng, mùa đông lạnh mà chúng tôi vẫn không ngần ngại lội xuống ao, nước ngập ngang thân người, để tìm ống trúc trôi giạt do cá mắc mồi kéo đi.
Chiều chiều, chúng tôi rủ nhau xuống ao, vớt lục bình về băm nhỏ, nấu với cám cho lợn ăn. Loại bỏ lá già, gốc phơi khô, ông ngoại đem ủ vào gốc cây bưởi, cây hồng cho mùa sau xanh tốt.
Có lẽ vui nhất, rộn ràng nhất là vào cuối tháng Chạp, khi gió Tết đang về đầu ngõ. Mọi nhà bắt đầu tát ao bắt cá, chuẩn bị cho cái Tết cận kề. Tát bằng gàu dai, từ sáng tới giữa trưa mới cạn… Mọi người xuống ao thi nhau bắt cá, bỏ vào giỏ, vào thùng và chuyển lên bờ. Khi chủ ao đã thu hoạch xong là đến phần “tháo khoán” cho trẻ em xuống bắt hôi. Có những chú cá rô mề, cá quả lủi sâu vào bờ cỏ, nay bị phát hiện và tiếng reo hò vang lên.
Nhưng điều quan trọng nhất của dãy ao làng chính là những hồ chứa nước nhỏ, liên hoàn nhau nên cả làng vào mùa mưa bão không bao giờ bị ngập, đường sá khô ráo như thường. Ao làng cũng được làng “quy hoạch” nơi nào tắm giặt, nơi nào lấy nước về dùng cho sinh hoạt. Nước dùng nấu cơm, nấu nước thì phải ra bờ sông, cách nhà chừng một cây số, gánh về đổ vào chum sành để đảm bảo vệ sinh.
Nay làng đã dời vào chân núi, ao làng đã bị lấp bằng để làm ruộng lúa, bãi ngô… Nhưng ký ức về ao làng một thuở, những nếp sinh hoạt gắn bó với ao làng, với bờ ao, cây khế mãi còn trong trang sách muôn thuở của thời gian…